Giới thiệu một số giống dừa truyền thống tại Việt Nam

Photo of author

By hiephoiduabentre

 

Hiện nay, diện tích trồng mới cây dừa đang gia tăng mạnh mẽ, bởi cây dừa có nhiều ưu thế trước biến đổi khí hậu toàn cầu. Các giống dừa trồng mới hiện nay, chủ yếu là các giống dừa có khả năng thích nghi rộng và hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, các giống dừa bản địa (như dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm, dừa Ẻo) là những giống dừa được thị trường quan tâm vì nó dễ trồng, khả năng thích nghi rộng.


Giới thiệu một số giống dừa truyền thống tại Việt Nam

(TS. Võ Văn Long, TS. Nguyễn Thị Bích Hồng, ThS. Ngô Thị Kiều Dương, KS. Phạm Thị Lan, KS. Lưu Quốc Thắng, KTV. Đặng Kim Thanh – Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu)

1. Mở đầu

Trong những năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã ảnh hưởng xấu đến thời tiết khí hậu của Việt Nam. Chẳng hạn như, nhiệt độ trái đất nóng hơn; bão tố, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn; mực nước biển dâng cao và lấn sâu vào nội đồng, ảnh hưởng xấu tới một số loại cây ăn quả đặc trưng của vùng nước ngọt. Vào mùa khô, khi độ mặn trong nước đạt ở mức ≥ 5‰, sẽ ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển của một số loài cây ăn trái đặc trưng như Sầu riêng, Chôm chôm, Măng cụt…

Tuy nhiên, đối với cây Dừa, khi độ mặn trong nước đạt ở mức 5‰ cây dừa vẫn sinh trưởng phát triển tốt, thậm chí hàm lượng dầu trong cơm dừa khô sẽ cao hơn so với cây dừa trồng trên vùng nước ngọt. Kết quả nghiên cứu về cây dừa của Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu (Viện NCD&CCD) cho thấy, ngưỡng chịu mặn của cây dừa có thể lên đến 10‰. Đây là ưu điểm nổi bật nhất của cây dừa so với các loại cây ăn trái khác. Chính vì thế, trong vài năm trở lại đây, diện tích dừa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) có chiều hướng gia tăng. Điển hình là Bến Tre (tỉnh có diện tích dừa lớn nhất cả nước), năm 2005 diện tích dừa đạt khoảng 37.000 ha, cuối năm 2011, diện tích dừa tăng lên 51.000 ha, Hiện nay, diện tích dừa đã đạt trên 63.000 ha (năm 2013), góp phần làm tăng diện tích dừa trong cả nước.

Trước đây, trồng dừa chủ yếu phục vụ nhu cầu kinh tế, nhưng hiện nay, cây dừa ngoài mục tiêu phát triển kinh tế, cây dừa còn được coi là cây trồng sinh thái, gắn liền với phát triển du lịch, tạo cảnh quan đô thị, bởi vẻ đẹp tự nhiên sẵn có của cây dừa. Chính vì thế, ngoài các tỉnh có diện tích dừa tập trung như Bến Tre, Trà Vinh, Bình Định, Tiền Giang, hiện nay cây dừa đang được phát triển mạnh ở những địa danh khác với nhiều mục đích khác nhau. Chẳng hạn như, phát triển cây dừa ở Hạ Long (phục vụ du lịch), đẩy mạnh trồng dừa trên đất cát sát bãi biển miền Trung (chắn cát, chắn gió, bảo vệ môi trường sinh thái), cây dừa cũng đang được trồng mới tại Bạc Liêu, Cà Mau – những vùng đất có nguồn nước nhiễm mặn không phù hợp cho nhiều loại cây trồng khác.

Tuy nhiên, cây dừa là cây dài ngày, chu kỳ khai thác kéo dài từ 50-60 năm (đối với nhóm dừa cao) và từ 30 – 40 năm (đối với nhóm dừa lùn). Vì vậy, muốn đầu tư xây dựng một vườn dừa phù hợp mang lại hiệu quả, cần thiết phải hiễu rõ những đặc điểm chính của các giống dừa, chọn lựa phương pháp canh tác thích hợp, đáp ứng tối đa nhu cầu sinh thái của cây dừa, giúp cho việc đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và ổn định.

2. Khái quát về điều kiện sinh thái và hiệu quả kinh tế của 4 giống dừa(Dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo)

Sau nhiều năm nghiên cứu, Viện NCD&CCD đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho công nhận chính thức và tạm thời nhiều giống dừa. Trong đó, bao gồm các giống dừa bản địa (như dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo), các giống dừa mới (dừa Dứa, dừa Sáp) và các giống dừa lai (PB121, JVA1, JVA2).

Xem Thêm:  Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của Bọ Đuôi Kìm (Chelisoches variegatus) trong việc quản lý Bọ Cánh Cứng hại dừa tại tỉnh Bến Tre.

Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu những đặc điểm chính và quy trình canh tác của 4 giống dừa bản địa đang trồng phổ biến tại Việt Nam đó là dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo.Cây dừa được trồng trên khắp đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của từng vùng, đã tạo ra cơ cấu các giống dừa đặc trưng của vùng đó. Chẳng hạn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được hình thành bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, đất thấp, chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều, khi trồng dừa phải đào mương lên liếp. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân chia thành 2 mùa (nắng mưa) rõ rệt. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Dương lịch. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 Dương lịch tới tháng 4 năm sau.

Vào mùa khô, hầu như không có mưa, nhưng do mực nước thủy triều lên xuống hàng ngày, đã cung cấp lượng nước cho cây dừa phát triển. Chính vì thế, vùng ĐBSCL, hầu hết các giống dừa đều sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao. Vùng DHNTB có một số yếu tố hạn chế như, đất nghèo dinh dưỡng, mực nước ngầm sâu, mùa mưa ngắn, mùa khô kéo dài, kèm theo khí hậu nóng và khô, cây dừa thiếu dinh dưỡng và thiếu nước, đã ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng phát triển của cây dừa, đặc biệt là các giống dừa uống nước.

Trong 4 giống dừa nói trên, giống dừa Ta và giống dừa Dâu được xếp vào nhóm dừa cao cây (hay còn gọi là nhóm dừa cao). Giống dừa Xiêm và giống dừa Ẻo được xếp vào nhóm dừa thấp cây (hay còn gọi là nhóm dừa lùn). Mỗi nhóm dừa khác nhau đều có những đặc điểm nông sinh học, dẫn đến quy trình canh tác cũng có những điểm khác nhau. Tuy nhiên, các giống trong cùng một nhóm có nhiều đặc điểm tương đồng. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những đặc điểm chính và quy trình canh tác của 4 giống dừa, bao gồm dừa Ta và dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo.

Giống dừa Ta và giống dừa Dâu 

Có thể trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Nhưng sẽ cho hiệu quả ở những vùng đất có độ pH từ 5,5-6,5; lượng mưa trung bình từ 1.300-2.300mm, phân phối đều suốt năm (Tôn Thất Trình, 1974); nhiệt độ trung bình từ 27-290C (Menon,1957); số giờ nắng trong năm 2.000 giờ; ẩm độ không khí từ 80-90% (Tôn Thất Trình, 1974); ở độ cao 600m so với mực nước biển là yếu tố giới hạn của cây dừa. Menon và Pandalai (1957); ngưỡng chịu mặn có thể lên tới 10‰ (TS. Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1994). Chính vì vậy, cây dừa Ta và Dâu được trồng khắp mọi miền đất nước. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện sinh thái khác nhau mà khả năng sinh trưởng phát triển cũng như hiệu quả kinh tế cũng khác nhau.

Trong điều kiện sinh thái phù hợp, chăm sóc đầy đủ, cây dừa Ta và dừa Dâu có thể đạt 100 quả cây năm (không thua kém so với Philippinesmột và Inđonesia là 2 nước có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất trên thế giới). Với giá trung bình vào thời điểm hiện tại 6.500đ quả (tháng 7/2014), 1 ha dừa trồng với mật độ 160 cây/ha, sẽ cho thu nhập 80-90 triệu đồng năm. Khi cây dừa vào giai đoạn cho quả ổn định, đầu tư cho cây dừa không cao, hiệu quả kinh tế khá ổn định. Mặt khác, giống dừa Ta và dừa Dâu của Việt Nam có ưu điểm là quả lớn, cơm dày, hàm lượng dầu cao, rất thích hợp cho xuất khẩu quả khô và là nguồn gen quý phục vụ cho công tác lai tạo giống. Đối với giống dừa Ta và dừa Dâu, ngoài việc sử dụng nguyên liệu chính là cơm dừa, các sản phẩm phụ từ dừa như vỏ dừa, gáo dừa, nước dừa…. đều có thể chế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị.

Nếu biết tận dụng chuỗi sản phẩm từ cây dừa, giá trị của cây dừa có thể tăng lên gấp 2-3 lần so với bán quả khô (TS. Võ Văn Long, 2003). Bên cạnh việc tăng giá trị kinh tế từ cây dừa, thông qua công việc chế biến các sản phẩm phụ từ cây dừa, đã tạo nhiều công ăn việc làm cho nguồn lao động nông nhàn ở những vùng trồng dừa nói riêng và xã hội nói chung. Chính vì vậy, trong quá trình phát triển cây dừa, giống dừa Ta và dừa Dâu vẫn là những giống dừa bản địa chủ lực trong cơ cấu giống dừa Việt Nam.

Xem Thêm:  Căng thẳng trên thị trường dừa tươi: Giá biến động như vàng trong bối cảnh nắng nóng kéo dài

Giống dừa Xiêm và dừa Ẻo

 thuộc nhóm dừa lùn (dùng để uống nước) rất thích hợp ở vùng ĐBSCL và những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp. Giống dừa Xiêm có nhiều đặc điểm tốt như năng suất cao, khối lượng quả trung bình, lượng nước trung bình từ 150-250mml/quả, vừa đủ cho mỗi người một lần uống. Nước dừa Xiêm ngọt, mát, an toàn và nhiều dinh dưỡng, làm thức uống bổ dưỡng rất được người tiêu dùng ưa chuộng.

Ở vùng ĐBSCL, trong điều kiện chăm sóc đầy đủ, năng suất có thể đạt trên150 quả cây năm. Giá trung bình từ 5.000-6.000đ/quả. Đó là chưa kể đến những thời điểm đặc biệt như mùa hè oi bức (ở miền Bắc), hoặc mùa khô năng gắt (ở miền Nam), giá dừa Xiêm “lên ngôi”, có khi từ 10.000-15.000đ/quả. Nếu trồng và chăm sóc tốt, một ha dừa Xiêm cho thu nhập không dưới 100 triệu đồng mỗi năm. Dừa Ẻo cũng thuộc nhóm dừa thấp cây, nhưng quả nhỏ hơn dừa Xiêm, bù lại năng suất quả cao hơn dừa Xiêm, nước rất ngọt và thanh. Ngoài giá trị làm nguồn nước giải khát bổ dưỡng, giống dừa Ẻo cũng là một trong những nguồn gen quý dùng để lai tạo, nhằm phát huy các ưu thế của giống trong thế hệ con lai.

Tuy nhiên, khả năng thích nghi với điều kiện bất lợi (như khí hậu khô nóng kéo dài, không chủ động được nguồn nước, hoặc những vùng nguồn nước có độ mặn hoặc phèn cao) của dừa Xiêm và dừa Ẻo thấp hơn dừa Ta và dừa Dâu. Có lẽ vì thế mà hiện nay, ở những vùng có điều kiện khó khăn (đặc biệt là thiếu nước theo nhu cầu sinh thái của cây dừa), cây dừa Xiêm và dừa Ẻo chưa được phát triển mạnh.

3. Đặc điểm nông sinh học nổi bật của 4 giống dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo

Giống dừa Ta 

Giống dừa Ta
Giống dừa Ta

Thuộc nhóm dừa cao, là giống dừa lấy dầu bản địa của Việt Nam, có hoa tự đồng chu, thụ phấn gián tiếp, gốc và thân cây to, sẹo lá trên thân dày, cây nhiều lá (28-33 lá), tán lá phân bố đều. Chiều dài cuống hoa ngắn (35-45cm). Thời gian từ khi trồng tới khi ra hoa khoảng 4-5 năm vùng ĐBSCL và từ 6-7 năm vùng DHNTB. Năng suất quả cây năm đạt từ 30-35 quả vùng DHNTB và từ 60-70 quả vùng ĐBSCL. Hình dạng quả tròn, có 3 khía. Hình dạng hạt tròn đáy phẳng. Khối lượng quả lớn (2.000g – 2.300g), vỏ dày, khối lượng hạt lớn (1.300g -1.500g). Khối lượng cơm dừa lớn (500g -550g), độ dày cơm dừa cao (1,0cm -1,1cm), hàm lượng dầu cao (60-63%). Trong cơm dừa có sự hiện diện của các axit béo cơ bản đặc trưng cho dầu dừa. Trong đó, axit lauric bão hòa với 12 carbon chiếm hàm lượng rất cao (47 % – 52 %).

Giống dừa Dâu

Dừa Dâu
Dừa Dâu

Thuộc nhóm dừa cao, là giống dừa lấy dầu bản địa của Việt Nam, có hoa tự đồng chu, thụ phấn bán trực tiếp, gốc và thân cây to, sẹo lá dày, nhiều lá (26-34 lá), tán lá phân bố đều. Chiều dài cuống hoa ngắn (40 -50cm). Thời gian từ khi trồng tới khi ra hoa từ 4-5 năm (vùng ĐBSCL và từ 6-7 năm vùng DHNTB. Năng suất quả cây năm đạt từ 30-35 quả vùng DHNTB và từ 70-80 quả vùng ĐBSCL. Hình dạng quả tròn đến hơi dài, không có khía. Khối lượng quả lớn (1.800g – 2.000g), xơ mỏng. Khối lượng hạt lớn (1.000g -1.300g). Khối lượng cơm dừa khá cao (450g -500g), cơm dừa khá dày (0,9cm -1,1cm). Hàm lượng dầu đạt từ 59-62%. Trong cơm dừa có sự hiện diện của các axit béo cơ bản đặc trưng cho dầu dừa, trong đó axit lauric bão hòa với 12 carbon chiếm hàm lượng rất cao (44 % – 51 %).

Giống dừa Xiêm 

Giống dừa Xiêm 
Giống dừa Xiêm

Dừa Xiêm (giống dừa uống nước) thuộc nhóm dừa lùn của Việt Nam, có hoa tự đồng chu, thụ phấn trực tiếp, thân thấp hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tổng số hoa cái/chùm từ 20 – 30 hoa, năng suất quả cây năm cao (100 -120 quả), khối lượng quả lớn (từ 850g -950g/quả), hàm lượng glucid trong nước dừa đạt 6,5-6,8g/100ml). Ngoài ra, còn có một số khoáng chất (như canxi, Manhê, kali) và vitamin C, giúp tăng cường sức đề kháng và chống lão hóa cho cơ thể.

Xem Thêm:  Tìm hiểu vai trò của cây dừa trong việc bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu

Giống dừa Ẻo 

Giống dừa Ẻo
Giống dừa Ẻo

Dừa Ẻo (giống dừa uống nước) thuộc nhóm dừa lùn của Việt Nam, có hoa tự đồng chu, thụ phấn bán trực tiếp, thân thấp hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tổng số hoa cái/chùm cao (30 – 40 hoa), năng suất quả/cây/năm cao (200 -300 quả), hàm lượng glucid trong nước dừa đạt 6,5 -7,0g/100ml). Ngoài ra, còn có một số khoáng chất (như canxi, Manhê, kali) và vitamin C, rất tốt cho sức khỏe.

4. Quy trình canh tác 4 giống dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm, dừa Ẻo

Các giống dừa trong cùng một nhóm có nhiều đặc điểm tương đồng. Do vậy, quy trình canh tác cho các giống dừa trong cùng một nhóm cũng tương tự như nhau. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu quy trình canh tác cho 4 giống dừa (dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo).

Trong quy trình trồng cây dừa, việc chọn giống đóng vai trò quan trọng để đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm. Hiện nay, có nhiều loại giống dừa được sử dụng phổ biến, trong đó có dừa cao và dừa lùn.

Đối với giống dừa cao, có thể kể đến những loại như dừa ta, dừa dâu, và dừa bung. Những loại này thường có gốc to, đường kính gốc khoảng 0.6-0.7m và thân to khoảng 0.3m. Cây có chiều cao từ 20-25m và tuổi thọ kéo dài từ 50-60 năm. Năng suất của giống dừa cao thường dao động từ 8-12 trái/tháng và có khả năng chịu đựng giông bão tốt.

Trong số giống dừa cao, dừa ta và dừa bung là những loại có năng suất cao và ổn định. Dừa ta và dừa bung thường sinh trái lớn và có gốc rễ bám chắc chắn, phù hợp để trồng ở vùng nước lợ. Tuy nhiên, dừa dâu cũng là một loại giống phổ biến, có kích thước nhỏ hơn nhưng cũng mang lại năng suất ổn định nếu được chăm sóc đúng cách.

Đối với giống dừa lùn, có nhiều loại như dừa dứa, dừa malai chu, dừa malai bầu, dừa xiêm, và dừa ẻo. Những loại này thường có đường kính khoảng 0.35m và cao từ 10-12m, tuổi thọ từ 25-35 năm. Mỗi cây dừa lùn có thể cho ra từ 100-120 trái/năm, tùy thuộc vào chăm sóc và điều kiện môi trường.

Quy trình chọn giống dừa bắt đầu từ việc chọn cây dừa mẹ. Cây mẹ cần có tuổi từ 15-30 năm đối với giống dừa cao và từ 10-15 năm đối với giống dừa lùn. Cây mẹ cần có năng suất ổn định và không bị dị dạng. Trái giống cần được chọn từ cây mẹ có vỏ đã khô, trái đều đặn và không bị biến dạng hoặc sâu bệnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Child, 1974. Coconut.

2. Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1994: Ảnh hưởng các yếu tố sinh thái trên sinh trưởng, phát triển và năng suất dừa trên đất phèn và phèn mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Luận án tiến sĩ khoa học đại học Paris XIII Val de Marne, 450 trang

3. Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1998: Cải thiện năng suất dừa Việt Nam.

4. H.Ameed Khan, Biddappa C.C and Cecil S.R., Improving the coconut production, 1990.

5. Gabrielle, Replanting the tree of life, 1982.

6. Phạm Thị Lan, Võ Văn Long, Lưu Quốc Thắng, Ngô Thị Kiều Dương, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2011. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng phát triển và hiện trạng sản xuất giống dừa Ta.

7. Phạm Thị Lan, Võ Văn Long, Lưu Quốc Thắng, Ngô Thị Kiều Dương, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2011: Kết quả nghiên cứu sinh trưởng phát triển và hiện trạng sản xuất giống dừa Dâu.

8. Phạm Thị Lan, Võ Văn Long, Lưu Quốc Thắng, Ngô Thị Kiều Dương, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2011. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng phát triển và hiện trạng sản xuất giống dừa Xiêm.

9. Phạm Thị Lan, Võ Văn Long, Lưu Quốc Thắng, Ngô Thị Kiều Dương, Nguyễn Thị Bích Hồng, 2011. Kết quả nghiên cứu sinh trưởng phát triển và hiện trạng sản xuất giống dừa Ẻo.

10. Võ Văn Long, 2001. Thu thập và bước đầu đánh giá nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ công tác chọn tạo giống dừa ở Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp.

11. Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, 1987: Kỹ thuật trồng và sơ chế cây có dầu. Nxb. TP.HCM.

12. Tôn Thất Trình, 1974. Cải thiện ngành trồng dừa ở Việt Nam. Nxb. Lửa thiêng:164.13. Ohler, Tree of life, 1984.

Leave a Comment