Báo cáo tổng quan về ngành dừa

Photo of author

By hiephoiduabentre

BÁO CÁO TỔNG QUAN

Phục vụ hội nghị “Phát triển ngành dừa tỉnh Bến Tre và các tỉnh ĐBSCL trở thành một ngành mũi nhọn”

I. Tổng quan về cây dừa thế giới và Việt Nam

Cây dừa là một trong những loại cây lấy dầu quan trọng của thế giới. Nói đến cây dừa người ta nghĩ ngay đến khái niệm cây của cuộc sống, cây của người nghèo và cây của 1001 công dụng vì ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường của nó. Cây dừa phân bố rộng từ vĩ độ 20 Bắc xuống vĩ độ 20 Nam với tổng diện tích khoảng 11,86 triệu ha (năm 2009 – FAOSTAT), được trồng tại 93 quốc gia, trong đó các quốc gia thuộc Hiệp hội Dừa Châu Á -Thái Bình Dương (APCC) chiếm hơn 90% diện tích (10.762ha). Quốc gia trồng dừa nhiều nhất là Indonesia với 3,8 triệu ha, kế đến là Philippines 3,2 triệu ha, rồi lần lượt là Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan.

Hiện nay có hơn 100 sản phẩm được sản xuất từ cây dừa. Năm 2010, Philippines đã xuất khẩu hơn 50 loại sản phẩm từ dừa mang lại nguồn ngoại tệ gần 1,5 tỷ USD, đóng góp hơn 3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu; Indonesia cũng không kém khi thu về hơn 944 triệu USD[1] cho đất nước. Những sản phẩm có nhu cầu gia tăng trên thị trường thế giới như là sữa dừa, bột sữa dừa, dầu dừa tinh khiết, cơm dừa nạo sấy, than hoạt tính, các sản phẩm từ chỉ xơ dừa.

Việt Nam hiện có khoảng 165.000 ha, (Định hướng cho việc phát triển diện tích trồng dừa, theo Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030: Ổn định diện tích dừa cả nước đến năm 2015 và 2020 là 140 ngàn ha, diện tích cho sản phẩm 130 ngàn ha, sản lượng 1,3 – 1,4 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở các vùng ĐBSCL, DHNTB, ĐNB) Tập trung chủ yếu ở Vùng duyên hải miền trung và Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích dừa của Việt Nam chỉ bằng 4,3% diện tích của Indonesia, 5,1% diện tích của Philippines, 8,6% diện tích của Ấn Độ và 41% diện tích dừa của Thái Lan. Tuy nhiên, theo đánh giá của các quốc gia thành viên Hiệp hội Dừa Châu Á – Thái Bình Dương giá trị sử dụng và giá trị tăng thêm của dừa Việt Nam tương đương với 1 triệu ha.

ĐBSCL có diện tích dừa 130.000 ha, chiếm 78,7% diện tích dừa cả nước. Trong đó 4 tỉnh chủ yếu chiếm 110.630 ha (tương đương 85% diện tích dừa ĐBSCL), gồm Bến Tre (69.000 ha, sản lượng 570.000 tấn), Trà Vinh (19.319 ha, sản lượng 223.318 tấn), Tiền Giang (14.988 ha, sản lượng 106.185 tấn), Vĩnh Long (7.951 ha, sản lượng 112.000 tấn). Do điều kiện thổ nhưỡng thích hợp, phù sa từ các hệ thống sông ngòi đã làm cho dừa của ĐBSCL nói chung và của Việt Nam nói riêng có chất lượng tốt, cơm dày, hàm lượng dầu cao. Bên cạnh đó giao thông thủy là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển dừa ở ĐBSCL vì chi phí thấp. Do đó ĐBSCL được ví như “Chợ dừa” của cả nước và là nguồn thu nhập của hơn 1,9 triệu hộ nông dân ở ĐBSCL.

Trước năm 2000, công nghiệp chế biến dừa chưa phát triển, người trồng dừa sống phụ thuộc chủ yếu vào việc bán trái dừa khô, hoặc bán cơm dừa khô (copra); sản phẩm từ trái dừa lúc này chủ yếu là dầu dừa thô, kẹo dừa, than thiêu kết, chưa có sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị kinh tế cao để xuất khẩu. Các phần phụ của trái dừa như nước dừa, vỏ dừa đều bỏ đi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên giá một trái dừa chỉ dao động trong khoảng từ 500 -700đ.

Từ năm 2001, công nghệ chế biến cơm dừa nạo sấy bắt đầu xuất hiện, giá dừa trái tăng lên. Năm 2005, khi đã có 16 nhà máy cơm dừa nạo sấy ra đời cùng với hàng loạt nhà máy chế biến các sản phẩm khác như than gáo dừa, than hoạt tính, thạch dừa, chỉ xơ dừa…thì giá dừa trái đã tăng lên 1.800 đ/trái, tức tăng 388% và tăng lên 8.175đ/trái vào năm 2010, tức tăng lên 454% sau 5 năm. Như vậy chỉ sau 10 năm kể từ khi công nghệ chế biến các sản phẩm dừa có giá trị gia tăng cao và giá trị kinh tế cao giá dừa nguyên liệu tăng nhanh và đỉnh điểm là năm 2011, giá dừa đã lên đến 11.900đ/trái. Từ đó đến nay giá dừa luôn được duy trì ở mức cao nhờ vào sự gia tăng công suất của các nhà máy hiện có, phát triển thêm các sản phẩm mới và thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư, chế biến, xuất khẩu các sản phẩm dừa.

Đến nay hầu hết các phần của cây dừa đều được khai thác tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thậm chí được xuất khẩu. Trong sự chuyển mình của ngành dừa có sự đóng góp không nhỏ các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp tiên phong trong chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ và rất thành công trong việc giúp duy trì và phát triển diện tích dừa, ổn định đời sống người trồng dừa như Công ty Cổ phần Trà Bắc (Trà Vinh); Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre; Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới (Bến Tre), Công ty TNHH Thế giới Việt (Thái Lan), Công ty TNHH chế biến dừa (Malaysia)….

Tuy nhiên, ngành công nghiệp dừa phát triển cũng chưa toàn diện, vẫn còn một số ngành hàng chưa có sản phẩm có giá trị gia tăng cao và còn phụ thuộc vào một thị trường như thạch dừa, chỉ xơ dừa, phần nào cũng chi phối đến ngành công nghiệp dừa. Ngành dừa Việt Nam vẫn bị chi phối bởi ngành dừa thế giới, giá dừa vẫn biến động theo giá dừa thế giới, làm ảnh hưởng đến đời sống và thu nhập của người trồng dừa. Giá dừa có lúc quá cao, các nhà máy không cạnh tranh nổi với thương nhân nước ngoài đã phải tạm ngừng sản xuất; có lúc lại quá thấp, một số nông dân phải đốn dừa để trồng những cây khác có giá trị kinh tế hơn.

Xem Thêm:  Vai trò của cơ sở chế biến kẹo dừa trong chuỗi giá trị dừa Bến Tre
Dừa tại Bến Tre
Dừa tại Bến Tre

II. Hiện trạng dừa Bến Tre

Bến Tre hiện là tỉnh trồng dừa lớn nhất cả nước, với diện tích 69.000 ha và đang có xu hướng tăng thêm đến năm 2020. Tổng sản lượng 570 triệu trái; năng suất dừa 9.400 trái/ ha (tương đương 1,8-2 tấn copra/ha).

Cơ cấu giống chủ yếu hơn 80% là các giống dừa chế biến công nghiệp như dừa Ta, dừa Dâu, còn lại là các giống dừa uống nước như dừa Xiêm xanh, Xiêm lục, dừa Dứa. Phần rất nhỏ là các giống dừa lai từ nguồn giống bố mẹ nhập nội hoặc địa phương như PB121; JVA1; JVA2 đã được công nhận khu vực hóa.

Đông Nam Á là cái nôi của đa dạng di truyền giống dừa thế giới thì Bến Tre có thể được xem là cái nôi của đa dạng di truyền giống dừa Việt Nam. Với nhiều giống dừa quý, hiếm như dừa Sọc (chỉ có ở Việt Nam), dừa Xiêm xanh, Xiêm lục (cho trái sớm nhất sau 18 tháng trồng), dừa Xiêm xanh ruột hồng, dừa Sáp (đặc ruột), dừa Dứa (thơm mùi lá dứa), dừa Ẻo (100 trái/ quày)….

Toàn tỉnh có 163.000 hộ trồng dừa, với diện tích bình quân 0,4 ha/hộ; trong đó khoảng 123.000 hộ có diện tích dưới 0,5 ha; 31.000 hộ có diện tích từ 0,5 -1 ha và khoảng 8.500 hộ có diện tích trên 1 ha. Đa số các hộ trồng dừa trồng xen cây khác, chỉ một phần nhỏ (thường là số hộ có diện tích lớn) trồng độc canh cây dừa. Theo ước tính có khoảng 40% nông dân có hoạt động liên quan đến cây dừa (*); qua phân tích cho thấy thu nhập từ dừa chiếm 72% cơ cấu thu nhập của hộ; 7% là thu nhập từ cây khác như chuối, chanh, lúa, mía…3% thu nhập từ chăn nuôi, và phần còn lại 4% thu nhập từ dịch vụ và các ngành nghề phụ khác.

Hiện Bến Tre đã sản xuất được hơn 30 sản phẩm từ dừa, với giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 1.323 tỷ đồng, tăng bình quân 10,05%/ năm (giai đoạn 2011-2015). Với các sản phẩm chủ yếu như cơm dừa nạo sấy (45.000 tấn; 234,6 tỷ đồng), sữa dừa (35.000 tấn; 342,45 tỷ đồng), bột sữa dừa (2.500 tấn; 18,07 tỷ đồng), thạch dừa (30.000 tấn; 17,6 tỷ đồng), kẹo dừa (20.000 tấn; 120 tỷ đồng), than hoạt tính (13.500 tấn; 128,25 tỷ đồng) đều tăng khá. Về cơ cấu giá trị một số sản phẩm dừa chủ yếu như sau: sữa dừa (nước cốt dừa) chiếm 28,07%, cơm dừa nạo sấy chiếm 18,41%, chỉ xơ dừa chiếm 11,43%, than hoạt tính chiếm 10,51%, kẹo dừa chiếm 9,84%, các sản phẩm từ dừa khác chiếm 21,74%.

Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm dừa giai đoạn 2011-2015 dự kiến đạt 764 triệu USD, chiếm 29,72% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh và tăng bình quân 18,72%/năm. Riêng năm 2015 dự kiến kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, tăng 10,39% so với năm 2014 và chiếm 27,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh. Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu năm 2015 như cơm dừa nạo sấy 27.500 tấn; sữa dừa: 42.021 tấn; kẹo dừa 7.000 tấn; thạch dừa 7.500 tấn; nước dừa đóng lon 6.000 tấn; chỉ xơ dừa 54.840 tấn; than hoạt tính 12.000 tấn;…

Hoạt động chế biến dừa của tỉnh có sức tiêu thụ dừa trái ngày càng tăng, hiện công suất chế biến đã vượt xa sản lượng dừa trái của Bến Tre cho thấy hiện tại Bến Tre cơ bản tiêu thụ được gần hết lượng dừa trái của tỉnh và có huy động từ các tỉnh bạn; Năm 2014 đã tiêu thụ trên 351 triệu trái dừa tương đương 83,51% sản lượng dừa trái thu hoạch; dự kiến năm 2015 sẽ chế biến khoảng 410 triệu trái, tương đương 84,62% sản lượng dừa trái thu hoạch của tỉnh.

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Trung Đông, Mỹ, Châu Âu và phần nhỏ khác được tiêu thụ nội địa. Trong đó phần lớn sản lượng kẹo dừa, chỉ xơ dừa thô, thạch dừa thô, than thiêu kết, dừa trái được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc; trong khi những sản phẩm có giá trị gia tăng cao như cơm dừa nạo sấy, sữa dừa, bột sữa dừa, than hoạt tính, dầu dừa tinh khiết được xuất khẩu sang các thị trường khó tính hơn như Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu…; các sản phẩm sau chỉ xơ dừa như lưới sinh thái, thảm xơ dừa, đất sạch….được xuất sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

Logo Hiệp Hội dừa bến tre
Logo Hiệp Hội dừa bến tre

III. Những hỗ trợ của các Bộ/ngành, địa phương  

Bộ Công Thương là đơn vị quản lý cây dừa đã đầu tư nguồn vốn sự nghiệp nghiên cứu cho nghiên cứu dừa nhiều năm qua, cụ thể là đầu tư kinh phí nghiên cứu khoa học cho Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (TP.HCM); Trung tâm Dừa Đồng Gò (Bến Tre), Trung tâm giống Trảng Bàng (Tây Ninh); triển khai dự án Dừa với nhiều chương trình tập huấn, đào tạo cho nông dân trồng dừa trong cả nước; nhiều chương trình học tập kinh nghiệm ở nước ngoài cho cán bộ nghiên cứu dừa; du nhập một số giống dừa mới như dừa Dứa; dừa Sáp; chuyển giao kết quả nghiên cứu nuôi cấy mô/ phôi dừa; tạo điều kiện cho Việt Nam gia nhập thành viên của Hiệp hội Dừa Châu Á -Thái Bình Dương (APCC) để tiếp cận công nghệ, sản phẩm mới/thiết bị tiên tiến; hỗ trợ thành lập Hiệp hội Dừa Việt Nam tập hợp các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, nông dân trồng dừa để phát triển ngành dừa; tổ chức nhiều chương trình khuyến công, xúc tiến thương mại quốc gia có lồng ghép xúc tiến thương mại sản phẩm dừa cho các tỉnh trồng dừa; hỗ trợ kinh phí cho việc quy hoạch, phát triển các khu/cụm công nghiệp để thu hút đầu tư chế biến sản phẩm dừa.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đơn vị quản lý cây dừa trước đây, trong phạm vi chức năng của mình cũng đã hỗ trợ chương trình du nhập ong ký sinh phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa. Tỉnh Bến Tre đã rất thành công trong việc nhân nuôi, chuyển giao kỹ thuật nhân nuôi ong ký sinh cho cộng đồng, đến nay cộng đồng và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn tiếp tục duy trì việc nuôi thả bổ sung ong ký sinh vào tự nhiên khống chế được bọ dừa gây hại.

Xem Thêm:  Giới thiệu một số giống dừa truyền thống tại Việt Nam

Bộ Khoa học và Công nghệ: gần đây có đầu tư vào một số đề tài nghiên cứu dừa cho địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông qua chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia tạo điều kiện cho tỉnh kêu gọi và thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến dừa.

Tỉnh Bến Tre nói riêng và các tỉnh ĐBSCL nói chung xác định ngành dừa có đóng góp quan trọng vào công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, giúp nâng cao thu nhập và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách.

Đặc biệt trong xu thế biến đổi khí hậu nhanh như hiện nay mà các tỉnh ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, cây dừa sẽ là cây trồng quan trọng cho thích ứng BĐKH, nên đã có nhiều hoạt động tích cực để hỗ trợ ngành dừa, cụ thể:

Chương trình phát triển dừa đến năm 2020 với nhiều dự án thành phần tập trung vào tất cả các lĩnh vực từ giống, mô hình trồng xen-nuôi xen, phòng trừ sâu bệnh, dự án về du lịch mang bản sắc văn hóa xứ dừa; đề án phát triển ngành chế biến, trong đó có chế biến dừa; đề án định hướng phát triển ngành công nghiệp ưu tiên và công nghiệp mũi nhọn (trong đó định hướng ưu tiên thu hút đầu tư vào ngành chế biến dừa); chương trình khuyến công và xúc tiến thương mại ngành dừa; hỗ trợ và tạo điều kiện cho thành lập và hoạt động của Hiệp hội Dừa Bến Tre; chương trình khoa học công nghệ ngành dừa; quỹ phát triển khoa học công nghệ ưu tiên cho vay đổi mới thiết bị, công nghệ ngành chế biến dừa; các chương trình khuyến nông hỗ trợ kỹ thuật; cung ứng giống chất lượng cho nông dân.

Tập trung cho nâng cấp và hoàn thiện giao thông nông thôn; xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù để khuyến khích và thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến dừa; hỗ trợ xây dựng các mô hình canh tác dừa hữu cơ, GAP và xây dựng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ dừa.

Thu hoạch dừa tại Trà Vinh
Thu hoạch dừa tại Trà Vinh

IV.  Những ưu điểm và lợi thế của cây dừa ĐBSCL

1. Cây dừa có giá trị kinh tế (đầu tư ít, tỉ suất sinh lợi cao; có thể trồng xen với nhiều loại cây; mỗi tháng đều có thu hoạch); giá trị xã hội (tạo ra nhiều việc làm cho nhiều thành phần và nhiều giới, lứa tuổi kể cả trẻ em, người già, người tàn tật); môi trường (thích ứng biến đổi khí hậu, phổ thích ứng rộng, độ mặn dao động theo mùa thích hợp cây dừa).

2. Cây dừa là cây trồng truyền thống nên các vùng trồng dừa đã hình thành mạng lưới hoàn chỉnh về trồng, thu hoạch, sơ chế, tiêu thụ, chế biến, thích hợp cho hộ không có lao động hoặc ít công lao động. Một số liên kết 3 nhà, 4 nhà đã bắt đầu hình thành các chuỗi cung ứng.

3. Về giống và kỹ thuật canh tác: các giống dừa bản địa truyền thống có phẩm chất tốt, năng suất cao, cao hơn bình quân chung của các quốc gia trồng dừa trên thế giới. Có Trung tâm nghiên cứu Dừa: bảo tồn giống, phát triển giống lai phù hợp điều kiện địa phương; nơi cung cấp giống tin cậy; người trồng dừa có nhiều kinh nghiệm trong canh tác, thu hoạch, chế biến và có năng khiếu, sáng tạo trong khai thác sử dụng các phần phụ của cây dừa.

4. Có ngành công nghiệp chế biến dừa tiên tiến, với các doanh nghiệp chủ lực có năng lực sản xuất đa dạng sản phẩm từ dừa như các nước trồng dừa đi trước hàng trăm năm. Ngoài ra còn có những sản phẩm truyền thống, đặc trưng chỉ có ở Việt Nam đó là kẹo dừa truyền thống và mặt nạ thạch dừa; các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tiếp cận nhanh công nghệ mới, phát triển, cải tiến các thiết bị nhập phù hợp điều kiện Việt Nam; có khả năng chế tạo các loại thiết bị nhỏ, phù hợp với nhu cầu và khả năng của hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ và vừa (máy đập tước chỉ xơ dừa).

5. Tốc độ phát triển ngành dừa nhanh, với thời gian ngắn trong khoảng 10 năm nhưng ngành dừa ĐBSCL đã xây dựng được thương hiệu của mình trên thị trường thế giới, cạnh tranh với các thương hiệu uy tín hàng trăm năm như Sri Lanka, Ấn Độ, Philippines, Indonesia. 

6. Hiệp hội dừa Bến Tre rất mạnh, tập hợp được các chủ thể trong chuỗi giá trị dừa để hỗ trợ cho ngành dừa, là kênh quan trọng cung cấp các thông tin cho doanh nghiệp, người bán, người mua và nông dân trồng dừa.

7. Có tiềm năng phát triển du lịch dặc biệt là du lịch sinh thái của vùng sông nước đặc trưng mang bản sắc văn hóa xứ dừa.  

V. Những hạn chế, thử thách để phát triển bền vững ngành dừa

1. Cây dừa là cây công nghiệp, việc quan tâm đầu tư cho cây dừa thiếu toàn diện, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp (trực thuộc Bộ Công Thương).

2. Diện tích nhỏ lẻ, thiếu công lao động, giao thông nông thôn bị trở ngại do đặc điểm vùng sông nước dẫn đến tình trạng quá nhiều khâu trung gian. Năng suất dừa có cải thiện nhưng tập quán canh tác của nông dân còn theo giá cả, khi giá cao thì đầu tư chăm sóc, khi giá thấp thì thiếu quan tâm, thậm chí còn đốn bỏ làm cho năng suất và sản lượng không ổn định, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển công nghiệp.

3. Giá dừa tăng giảm thất thường, thiếu ổn định, dẫn đến tâm lý hoang mang đốn dừa trồng cây khác. Mặc dù cây dừa có tỉ suất lợi nhuận cao, chi phí thấp, thích hợp cho hộ thiếu lao động, nhưng trong thời điểm nhất định thu nhập tuyệt đối từ cây dừa thiếu tính cạnh tranh với một số cây trồng khác như cây ăn quả, bưởi, trong khi đó vẫn chưa có chính sách bảo hộ mang tính vĩ mô nào để giúp ổn định diện tích dừa.

Xem Thêm:  Bến Tre: Bản tin giá dừa từ ngày 01/9 đến ngày 07/9/2023

4. Chưa có các giải pháp hữu hiệu để duy trì phát triển các liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ để khắc phục đặc điểm manh múng, nhỏ lẻ của một loại cây công nghiệp, tạo nên sức mạnh chống lại sự tác động của cơ chế thị trường.

5. Giống dừa được nghiên cứu nhiều, nhưng còn quá ít giống được thương mại hóa, trong khi các giống lai đã được khu vực hóa có năng suất/sản lượng chưa thật thuyết phục so với giống địa phương và nguồn giống mới cho sản xuất còn hạn chế, các cơ sở sản xuất giống tin cậy không đủ giống cung ứng theo yêu cầu, nông dân vẫn phải mua giống trôi nổi. 

6. Những hỗ trợ và đầu tư nghiên cứu thiếu tính hệ thống và tính liên tục, đặc biệt là nghiên cứu giá trị dinh dưỡng, y học của dừa làm cơ sở dữ liệu cho việc quảng bá và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa và nghiên cứu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao mang tính định hướng từ xơ dừa, thạch dừa chưa được quan tâm đầu tư. Đồng thời nhiều nghiên cứu về dừa chưa ứng dụng được trong thực tiễn, dẫn đến không thương mại hóa được kết quả nghiên cứu.

7. Thiếu những cơ chế chính sách căn cơ để bảo hộ phát triển vùng nguyên liệu như khuyến khích tích tụ ruộng đất, phát triển vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, thu hút đầu tư vào chế biến dừa ở nông thôn; chính sách bảo hộ/ bảo hiểm giá dừa.

8. Hiệp hội Dừa Việt Nam hình thành 5 năm qua nhưng chưa hỗ trợ được nhiều và liên kết gắn bó với Hiệp hội Dừa Bến Tre, đặc biệt là thiếu thông tin của ngành dừa Việt Nam.

9. Tham gia thành viên APCC là cơ hội duy nhất cho Việt Nam tiếp cận công nghệ và thị trường thế giới, nhưng hiện nay Việt Nam có nguy cơ bị loại khỏi APCC vì đơn vị được chỉ định đại diện cho Việt Nam tại APCC là Công ty cổ phần Dầu thực vật Việt Nam không có kinh doanh và thu lợi nhuận từ cây dừa nên không muốn tiếp tục đóng phí thành viên cho APCC.

10. Trung tâm Dừa Đồng Gò chưa khẳng định được vai trò đối với ngành dừa Bến Tre, năng lực chưa xứng với tiềm năng, là trung tâm giống dừa nhưng chưa cung cấp được giống theo yêu cầu.

VI. Kiến nghị

1. Nhà nước nên hỗ trợ ngân sách cho việc duy trì thành viên của Việt Nam trong APCC để tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dừa Việt Nam hội nhập và tiếp cận công nghệ, thị trường thế giới.

2. Đầu tư nghiên cứu khoa học cho ngành dừa một cách toàn diện, liên tục và trọng tâm, trọng điểm vào sản phẩm cụ thể để làm cơ sở dữ liệu khuyến khích và kích cầu tiêu dùng nội địa.

3. Nghiên cứu phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ vỏ dừa và nước dừa, tránh phụ thuộc vào 1 thị trường như hiện nay. Và nghiên cứu sâu các sản phẩm đã có thương hiệu để khai thác giá trị tăng thêm cho các sản phẩm hiện có như dầu dừa tinh khiết, bột sữa dừa.

4. Thành lập các hiệp hội dừa ở các tỉnh có trồng và chế biến dừa; Nâng cao năng lực hoạt động Hiệp hội dừa Việt Nam đủ tầm là Người đại diện chung, có tiếng nói thống nhất và tập hợp, đoàn kết tất cả các chủ thể trong chuỗi giá trị cây dừa trong cả nước. Đồng thời là trung tâm cung cấp thông tin của ngành dừa Việt Nam.

5. Đầu tư nâng cấp Trung tâm dừa Đồng Gò thành trung tâm nghiên cứu toàn diện về cây dừa từ bảo tồn giống, kỹ thuật trồng và chăm sóc, mô hình trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa; đặc biệt là nghiên cứu công nghệ, thiết bị, chế biến sâu các sản phẩm từ cây dừa, phát triển sản phẩm mới, phát triển thị trường, tổ chức liên kết trong ngành dừa, văn hóa và du lịch dừa, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành dừa …. tương xứng tiềm năng và yêu cầu của các tỉnh trồng và chế biến dừa.

6. Tạo điều kiện, ưu tiên hỗ trợ kinh phí đầu tư quy hoạch và phát triển hạ tầng cho từ 1-2 khu công nghiệp dành riêng cho ngành chế biến dừa của ĐBSCL.

7. Xác định vị trí quan trọng của cây dừa – cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu cấp thiết và quan trọng của vùng ĐBSCL để có chính sách hỗ trợ tương ứng như:

– Chính sách bảo hộ/ bảo hiểm đặc thù giá dừa, giúp ổn định và phát triển diện tích vườn dừa phù hợp, qua đó đảm bảo nguyên liệu dừa cho công nghiệp chế biến;

– Chính sách ưu đãi/ hỗ trợ đầu tư phát triển vùng nguyên liệu/ chế biến dừa (cụ thể hóa theo Nghị định 210/ 2013/ NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 về Chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;

– Bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 để đầu tư đúng mức: vùng ĐBSCL, sản phẩm đặc trưng mang bản sắc văn hóa dừa, địa bàn trọng điểm du lịch là Tiền Giang-Bến Tre-Vĩnh Long-Trà Vinh và với điểm/ khu du lịch quốc gia Cồn Phụng (Cồn đạo dừa).

– Chính sách tín dụng: gói tín dụng ưu đãi kịp thời cho nông dân/doanh nghiệp trong những năm giá dừa giảm.

8. Ưu tiên các chương trình hỗ trợ quốc gia và Khoa học và Công nghệ cho ngành dừa như hỗ trợ nghiên cứu sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, nghiên cứu cung cấp thông tin đầy đủ về giá trị dinh dưỡng, y học của dừa để khuyến khích tiêu dùng nội địa (tránh phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu khi giá dừa giảm); đầu tư xây dựng chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài cho sản phẩm dừa; đầu tư cho ngành công nghiệp cơ khí để khuyến khích cơ giới hóa ngành dừa; Quỹ phát triển KH&CN quốc gia để đầu tư sản xuất sản phẩm mới, đổi mới công nghệ…     

 

Leave a Comment