Danh mục
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
VĂN BẢN MỚI
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DOANH NGHIỆP & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (APCC)
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGÀNH DỪA
TIN CÔNG NGHỆ (APCC)
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
THƯƠNG HIỆU - KỶ LỤC
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Một số suy nghĩ bước đầu về kết qủa liên kết 4 nhà trong ngành dừa
08-03-2018

Nguyễn Trung Chương - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Dừa Bến Tre

Một số suy nghĩ bước đầu về kết qủa liên kết 4 nhà trong ngành dừa

Trong chúng ta, ai ai cũng biết rằng liên kết bốn nhà là một xu thế tất yếu; trong điều kiện sản xuất manh mún; năng suất nông nghiệp thấp thì liên kết bốn nhà sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, là đòn bẩy phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn, là chỗ dựa, là hậu thuẫn, là mốc khởi đầu trong liên hoàn với “các nhà” khác; thông qua liên kết sản xuất (LKSX) mang lại tính quy mô cao, hiện đại, sản phẩm sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng xu thế hội nhập thị trường; hạn chế rủi ro và hiệu quả cao...
Trong quá trình triển khai thực hiện, nhiều nơi trong cả nước đã xuất hiện rất nhiều mô hình LKSX và tiêu thụ sản phẩm hiệu quả ra đời trên một quy trình hoàn chỉnh từ cách tổ chức nhóm kỹ thuật, nhóm thu hoạch, vận chuyển.., quy chế, hợp đồng, xử phạt.... Nhiều nơi đến học tập để về địa phương mình áp dụng. Tuy nhiên, qua thời gian, một số mô hình liên kết bốn nhà một thời vang bóng đã bị chựng lại, thậm chí đang trên đà đi xuống.
Phân tích tính thiếu bền vững này, có nhiều lý giải nhưdo quy trình liên kết hợp hợp đồng giữa doanh nghiệp (DN) và người sản xuất còn lỏng lẻo; những hạn chế về thị trường tiêu thụ. Việc xử lý các vi phạm gặp nhiều khó khăn, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc các bên... và rất nhiều nguyên nhân khác.
Từ những hạn chế trên, các nhà quản lý đã đưa ra hàng loạt các giải pháp để khắc phục như đẩy mạnh vai trò của các đoàn thể trong việc thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục dưới nhiều hình thức để nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa, lợi ích của việc liên kết “4 nhà” cho từng đối tượng, đặc biệt là cho nhà nông, nhà DN. Hoàn chỉnh xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách phù hợp trong sản xuất và tiêu thụ, bao gồm cơ chế, chính sách xử phạt, quy trách nhiệm về lợi ích vật chất, phân chia lợi ích kinh tế hài hòa giữa các nhà, trong đó, chú trọng đến lợi ích của nhà nông, nhà khoa học …
Tại Bến Tre, mặc dù có nhiều nỗ lực của các ngành hữu quan, sự quyết tâm của các địa phương, sự năng động của DN và ngay cả sự mong đợi của nông dân trồng dừa, nhiều mô hình mang tính liên kết đầu tư vào các khâu chăm sóc, thu mua, sơ chế cũng đã được triển khai, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Việc lựa chọn phương thức tổ chức thu gom nguyên liệu thông qua hệ thống thương lái hay bằng phương thức DN mua trực tiếp hoặc tổ chức thành nhóm chuyên khâu để nông dân tự thu hoạch rồi vận chuyển đến nhà máy nhằm hạn chế bớt khâu trung gian, cần xây dựng nhiều hợp đồng để gắn kết một cách chặt chẽ trong khâu cung ứng và bao tiêu giữa các bên.
Trong một thời gian dài thử nghiệm, phương thức thu mua trực tiếp qua hệ thống DN đã bộc lộ nhiều hạn chế trên các mặt như kinh nghiệm, phương thức vận hành, mối thân quen lâu đời giữa người bán với người mua. Việc tổ chức các nhóm chuyên khâu thì nông dân tỏ ra lúng túng, cùng với thực trạng hộ trồng dừa là những người già lớn tuổi, nông dân không quen với kiểu giấy tờ sổ sách và thực hiện 2-3 hợp đồng…
Thực hiện chuỗi giá trị dừa, trong năm qua, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến tre, là thành viên trong Ban thường vụ Hiệp Hội Dừa Bến Tre đã phối hợp với các DNcác địa phương thành lập mới, kết hợp củng cố các tổ nhóm hợp tác, tổ liên kết trong việc tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi qua các phương pháp tiếp cận, như:
- Tạo ra sản phẩm hàng hóa phù hợp với nhu cầu của DN và thị trường. Xây dựng các mối quan hệ sản xuất cụ thể phù hợp với địa phương và đặc điểm của DN, thống nhất chương trình hoạt động, kế hoạch cụ thể; xác định tiêu chuẩn sản phẩm hàng hóa, quy mô vùng nguyên liệu...
- Xây dựng chương trình huấn luyện, đào tạo nâng cao năng lực về điều hành và tổ chức sản xuất cho các tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX); chuyển giao kỹ thuật tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của chuỗi giá trị.
- Phân công cán bộ theo dõi, hỗ trợ thường xuyên cho các địa phương và DN. Kịp thời tham gia xử lý các mối quan hệ, các vấn đề phát sinh trong quá trình liên kết sản xuất.
Sau gần một năm thực hiện, đến nay đã đạt một số kết quả bước đầu như sau:
* Về tổ chức:
- Vận động cộng đồng thành lập THT, doanh nghiệp liên kết tiêu thụ:
+ Dừa công nghiệp: củng cố 5 THT, thành lập mới 10 THT và 11 tổ liên kết (TLK).Phối hợp với 2 HTX dừa mới thành lập: HTX nông nghiệp Châu Bình, HTX dừa Mỹ Hòa để hỗ trợ xây dựng phương án xản xuất sau khi đã ổn định về mặt tổ chức.
+ Dừa uống nước: củng cố 1 THT, thành lập mới 5 THT
* Tập huấn chuyến giao kỹ thuật:
- Xây dựng tài liệu kỹ thuật: hoàn thiện 3 bộ tài liệu kỹ thuật, kỹ thuật thâm canh dừa, kỹ thuật canh tác dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ, kỹ thuật canh tác dừa thích nghi với hạn mặn.
- Tập huấn Bộ tiêu chuẩn hữu cơ của Mỹ, Nhật và EU cho học viên là cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông và Khuyến nông viên.
- Tập huấn “Kỹ thuật canh tác dừa thích nghi với hạn, mặn” trên một số xã bị ảnh hưởng, kỹ thuật canh tác dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ cho các hộ trồng dừa hữu cơ .
* Tổ chức liên kết tiêu thụ sản phẩm:
- Dừa công nghiệp: Hiện nay có 2 Công ty là: Cty TNHH Chế biến dừa Lương Quới và Cty CP Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex) gắn kết tiêu thụ với nông dân bằng 2 hình thức: mua dừa trái và xây dựng điểm sơ chế tại cơ sở.
- Dừa uống nước: Cty TNHH XNK Trái Cây MeKongthu mua dừa trái trực tiếp tại vườn của nông hộ, Cty chịu trách nhiệm thu hoạch và vận chuyến. Công ty Giàu Tiến đang thương thảo hợp đồng với thành viên THT dừa xiêm xanh Châu Hòa, ký hợp đồng trong tháng 10/2017.
Mặc dù chỉ là bước đầu, tuy nhiên chúng ta có thể nhận thấy:
Hệ thống thu mua, trước đây, khi DN trực tiếp thu mua dừa trái nguyên liệu, thì DN không có một đội ngũ chuyên nghiệp, cần phải có một nguồn kinh phí lớn để mua sắm phương tiện, vốn lưu động để trả cho nông dân và chủ DN phải thường xuyên giải quyết các vấn đề phát sinh về các vi phạm hợp đồng, giá cả thay đổi theo thời gian, vùng cung ứng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm....
Trong mô hình mới này, tuỳ theo thực trạng của nhóm liên kết mà DN áp dụng mô hình thu mua trực tiếp bằng chính nhân viên của công ty hay kiểu tổ chức lại hệ thống thương lái truyền thống có gắn kết với DN. Qua quá trình thực hiện, đối với dừa công nghiệp do có sản lượng lớn và địa bàn hoạt động khá rộng nên Công ty thường thực hiện thu mua qua thương lái; hoạt động này đang diễn ra khá suôn sẻ, thương lái bây giờ là bộ phận thu mua và thực hiện sự điều hành của DN, là mắt xích của DN và hộ nông dân. Trong cách thức vận hành này, với đội ngũ có nhiều kinh nghiệm, cùng với phương tiện của họ, với số vốn tự có hoặc có thể ứng thêm vốn của DN, nếu thiếu, mà thực hiện công việc thu gom của mình và giao tiền ngay cho nông dân sau khi nhận hàng, thậm chí còn ứng trước cho nông dân khi họ gặp khó khăn, thể hiện mối thân quen tình làng nghĩa xóm như hồi còn làm ăn riêng lẻ. “Thương lái” sẽ mua theo giá chỉ đạo của DN (doanh nghiệp quyết định giá, không phải là “thương lái”, họ chỉ hưởng huê hồng hoặc tiền thưởng tùy theo chất lượng của lô hàng. Trong chuyến hàng ấy họ có thể dự đoán được phần nào mức thu nhập của mình nên rất yên tâm; không như trước kia, đôi khi họ cũng bị lỗ ở một số chuyến hàng. Đối với dừa uống nước do số lượng ít, vừa phải thì DN thường mua trực tiếp, thông qua cán bộ kỹ thuật của mình để hướng dẫn kỹ thuật và kiểm tra về chất lượng sản phẩm. Các phương thức thu mua này cả nông dân, “thương lái”, DN đều có lợi. Giá thu mua dừa DN cũng thường xuyên cung cấp hàng tuần cho nhóm hợp tác qua hệ thống tin nhắn.
Trong kinh tế thị trường cần phải có sản phẩm khối lượng lớn, chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh. Nông dân cá thể không thể làm được điều này. Nông dân phải tổ chức được "hành động tập thể" theo quy trình sản xuất chung theo từng cánh đồng lớn. Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của DN, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa… Đây chính là các yếu tố để nông dân xây dựng hành động tập thể. Hàng hóa nông sản cần được xác định rõ về số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm nông sản trong sản xuất. Từ đó phát sinh ra tư tưởng là cần phải xây dựng các mô hình liên kết gắn trực tiếp với DN không qua trung gian thương lái để tránh "ép giá" đáp ứng các yêu cầu về chất lượng thị trường
Cần có cách nhìn mới về thương lái hiện nay. Do đặc thù sản xuất nông nghiệp của nước ta là rất manh mún, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, sự hình thành và phát triển của đội ngũ thương lái là yếu tố khách quan tất yếu; lực lượng này cũng đã có những sự chuyển hóa về phương thức thu mua nhằm hướng tới sự phù hợp hơn, thỏa mãn tâm lý khách hàng. Thậm chí ranh giới để phân biệt cách gọi thương lái và DN nhỏ ở một số nơi, một số mặt hàng hiện nay là không rõ rệt. “Thương lái” nắm rất rõ chất lượng hàng hóa, tâm lý mua bán, có phương tiện, tiền vốn, linh hoạt về hình thức mua bán nên có thể xem như là một “Doanh nghiệp đồng ruộng” rất chuyên nghiệp. Đặc biệt đối với những mặt hàng tươi sống, cần thực hiện qua kênh bán lẻ, phân phối nhanh, linh hoạt, thu gom vùng sâu, điều kiện giao thương bất lợi thì thương lái thường có ưu thế hơn. Ở một số nơi trong mô hình này họ còn đóng vai trò phụ trách ở điểm sơ chế và thực hiện kiểm tra chất lượng bán thành phẩm theo yêu cầu của DN.
Trong nền kinh tế thị trường thì sản phẩm hàng hóa cũng bị chi phối bởi các quy luật, như:
Quy luật giá trị:  Trên thị trường, người mua bao giờ cũng muốn tối đa hóa lợi ích sử dụng. Vì vậy, người mua luôn luôn muốn ép giá thị trường với mức giá thấp. Ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đá hoá lợi nhuận, và do đó, muốn bán với giá cao. Để thu được nhiều lợi nhuận, người sản xuất phải phấn đấu giảm chi phí.
Quy luật cạnh tranh: Cạnh tranh thường diễn ra giữa những người bán với những người mua và giữa những người bán với nhau, sự cạnh tranh này lại được khắc phục bằng cơ chế thoả thuận trực tiếp giữa họ để đạt được mức giá mà hai bên cùng chấp nhận thể hiện được mức giá thị trường mà mỗi bên không bị ảnh hưởng tới. Người bán có thể áp dụng mức giá thấp để thu hút người mua. Như vậy, cạnh tranh tạo ra một xu thế ép giá thị trường sát với giá trị. Giữa những người mua cũng có sự cạnh tranh với nhau nhằm tối đá hoá lợi ích sử dụng.
Quy luật cung cầu: Xét về mặt thời gian, giá thị trường là cái có trước quan hệ cung cầu. Đây là hiện tượng phổ biến của sự hình thành và vận động của giá cả trên thị trường. Từ tín hiệu của giá thị trường, các nhà sản xuất có thể nhận biết tương đối chính xác cầu của thị trường và họ có thể chủ động đưa ra thị trường một khối lượng hàng hoá tương đối phù hợp với nhu cầu đó. Sự cân bằng cung - cầu là cơ sở quan trọng để ổn định giá cả của từng loại hàng.
Trong quá trình vận hành, và phát triển thì sẽ có phát sinh là một trong những nhân tố của ba quy luật trên chưa kịp điều chỉnh và kiềm chế lẫn nhau, lúc đó ta cảm thấy dường như có sự “ép giá” diễn ra (cả người bán lẫn người mua). Từ đó cho thấy “hành động tập thể” mà trong quản lý nhà nước dù muốn dù không, buộc phải tuân thủ các quy luật về thị trường.
- Nhà khoa học:
Trong thực hiện liên kết này, các cán bộ kỹ thuật, tuy không phổ biến, và công bằng về mức thù lao, nhưng thường được khích lệ về công sức bỏ ra trong một số hoạt động tư vấn khoa học. Đối với dừa uống nước thì cán bộ kỹ thuật của công ty trực tiếp thực hiện hoặc hướng dẫn cho nông dân về cách chăm sóc trái đạt tiêu chuẩn và họ được hưởng thù lao từ DN. Đối với dừa công nghiệp thì cán bộ kỹ thuật thực hiện bằng kinh phí khuyến nông và một ít bồi dưỡng “trà nước” của công ty; điều mà trước đây thường có hiện tượng các doanh nghiệp sử dụng không công những sản phẩm mà nhà khoa học mang lại, xem nó như là những sản phẩm công ích.
- Nhà nước:
Vai trò của “nhà nước” ở các địa phương trước đây trong mối quan hệ này nhiều khi rất mờ nhạt, chỉ mới dừng lại ở việc chứng thực hợp đồng, còn việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện hợp đồng thì còn nhiều hạn chế. Vẫn còn có hiện tượng xem việc ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng là việc giữa DN và hộ nông dân. Ngược lại, DN xem đó là trách nhiệm của chính quyền địa phương. Qua thực hiện liên kết một số nơi thì mối quan hệ lợi ích này từng bước được thể hiện như hỗ trợ phần nào trong việc đóng góp hạ tầng nông thôn, nhà tình nghĩa, quỹ bảo trợ.  
Từ những thông tin ban đầu, chúng tôi nhận thấy mô hình liên kết hợp tác vừa qua mà Hiệp Hội Dừa và Trung tâm Khuyến nông tư vấn hỗ trợ đã khắc phục phần nào sự mất cân đối trong việc hài hoà 3 lợi ích trong thực hiện liên kết 4 nhà. Trước đây lợi ích thường thể hiện ở hai nhà; nhà DN và nhà nông; lợi ích nhà nước (địa phương) và nhà khoa học dường như không đáng kể. Trong quá trình liên kết vấn đề lợi ích là vấn đề cơ bản của mọi hoạt động kinh tế. Các Mác nói: “Những tư tưởng của mọi thời đại bao giờ cũng được thể hiện dưới hình thái những lợi ích”.
- Vấn đề cần quan tâm trước tiên là thời gian tới cần có cơ chế cho lợi ích của nhà khoa học và nhà nước cùng hài hoà với 2 nhà DN và nhà nông; Nhà DN cần phải trích ra một ít nguồn kinh phí dành cho hai nhà này để sử dụng cho các hoạt động khảo sát, xử lý các tình huống phát sinh, làm cầu nối giữa doanh nghiệp và nông dân. Lợi ích mà "nhà nước địa phương” như đã nói ở trên là chưa đủ động lực để khuyến cá nhân cán bộ bỏ công gắng sức của mình. Đối với nhà khoa học, mặc dù thành phẩm các kết quả nghiên cứu của họ được đưa ra đồng ruộng, góp phần xây dựng cho đời sống kinh tế tươi đẹp hơn, nhưng họ cũng cần có lợi ích tương đối, như vậy họ mới chủ động gắn kết giữa nhà DN và nhà nông.
- Vấn đề thứ hai là tất cả những nhân tố nào có lợi trong nền kinh tế thị trường thì chúng ta cần phát huy và định hướng nó vào quỹ đạo XHCN. Nhà Sử học Dương Trung Quốc đã nói: “Những vấn đề đặt ra với thương lái cũng là những vấn đề đặt ra với thương nhân Việt nói chung. Một xã hội tiểu nông sẽ tạo ra những căn tính, tập tính của đội ngũ thương nhân không quen nhìn xa trông rộng, không hướng tới lợi ích lâu dài, chủ yếu là ứng biến, cơ hội. Sự ứng biến đó của thương lái có thể gây ra thiệt hại về lợi ích cho một bộ phận người dân, khi mà họ chưa tạo ra được một hệ thống ứng xử trên nền tảng luật pháp. Đây cũng chính là vấn đề đạo đức doanh nhân, văn hóa doanh nhân mà xã hội Việt Nam hiện đại đang tiếp tục phải đặt ra”. Ở đây chúng tôi muốn nói đến là vai trò của thương lái
- Vấn đề thứ ba là DN gắn kết bao tiêu phải đủ mạnh về tiềm lực sản xuất và thị trường tiêu thụ ổn định. Chủ DN, hay người được uỷ quyền đã giao tiếp thường xuyên với nhóm liên kết này phải có mặt trong bất cứ tình huống bất lợi nào. Sự có mặt của nhà DN trong lúc này khiến người nông dân không chỉ an tâm mà còn đồng cảm, chia sẻ những khó khăn với DN nghiệp khi có những biến động về thị trường.
Hiệp hội Dừa Bến Tre

Các tin khác:
Bình Đại: Tổ hợp tác, Hợp tác xã phát triển nhanh và đúng hướng
Thành lập Hợp tác xã nông sản an toàn Bến Tre
Liên kết, tập trung theo từng sản phẩm nông nghiệp chủ lực
Thới Thạnh: Thành lập Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Hợp tác xã: Cần người điều hành năng động, sáng tạo
Bến Tre tập trung xây dựng chuỗi giá trị Dừa
Tổ chức tập huấn “Kỹ năng tiếp cận thị trường cho các tổ, nhóm hợp tác, hộ nông dân” trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Liên kết hình thành các chuỗi giá trị dừa
Mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm dừa
Giồng Trôm: Nhân rộng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ trái dừa
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Cơ sở KDSX Thạch dừa Minh Tâm
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
DNTN Hưng Long
Kẹo dừa Thanhh Long
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty Lê An
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 12.537.104
Online: 45
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun