Danh mục
VĂN BẢN MỚI
THƯƠNG HIỆU
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DN & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QTKD
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (ICC)
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TIN CÔNG NGHỆ
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Cây dừa - Một số kết quả nghiên cứu và phát triển
22-12-2014

Viện nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu, 171 – 175, Ham Nghi street, Dist., 1. HoChiMinh City, Vietnam.

Cây dừa - Một số kết quả nghiên cứu và phát triển

Viện nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu (sau đây xin gọi tắt là Viện) là Viện chuyên ngành duy nhất trong cả nước nghiên cứu toàn diện về cây dừa. Hơn 30 năm qua, Viện đã triển khai nhiều đề tài/dự án nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, nhằm khai thác & phát triển cây dừa một cách hiệu quả, góp phần phát triển nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất dầu và chế biến đa dạng hoá các sản phẩm từ dừa của Việt Nam.
Trong khuôn khổ bài tham luận này chúng tôi xin được chia sẻ kết quả nghiên cứu phát triển về cây dừa, cũng như kinh nghiệm trong vấn đề trồng và chế biến dừa. Mục tiêu là để gắn kết hơn nữa giữa nghiên cứu và ứng dụng, giữa các nhà nghiên cứu và cộng đồng người trồng dừa cũng như doanh nghiệp để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác cây dừa, trong chế biến hàng hoá phục vụ nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Từ khóa: nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật canh tác, chế biến hàng hóa, xuất khẩu, tiêu dùng nội địa
Mở đầu:
Cây dừa cung cấp rất nhiều sản phẩm hữu ích, từ các thực phẩm chúng ta sử dụng hàng ngày như nước dừa, nước cốt dừa, dầu dừa cho đến các sản phẩm có giá trị hàng hoá cao như cơm dừa nạo sấy, dầu dừa tinh khiết (VCO), sữa dừa, bột sữa dừa, than hoạt tính, rượu mật hoa dừa, các sản phẩm sử dụng trong công nghiệp chăn nuôi như probiotic, prebiotic cho đến các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ xuất khẩu. Chính vì lẽ đó cây dừa được mệnh danh là “cây của cuộc sống, “cây của ngàn công dụng.
Hơn nữa, cây dừa từ lâu đã được chứng minh có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và xã hội của người dân Việt Nam. Vai trò kinh tế của cây dừa ngày càng được phát huy, hiện tại thu nhập của người trồng dừa tăng hơn trước nhưng chưa cao, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa cho tới nay còn khá khiêm tốn. Ngoài ra, do cây dừa có khả năng chịu mặn, chịu ngập, chịu được giông bão tốt hơn so với một số cây trồng khác, chúng sẽ đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên Hải Nam Trung Bộ trước thách thức ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu.
1. Nghiên cứu trong nước:
1.1. Nghiên cứu về nguyên liệu:
Hiện nay, Viện đang sở hữu một tập đoàn gồm 51 giống dừa tại Trung tâm Dừa Đồng Gò - Bến Tre, trong đó có 12 giống nhập nội và 39 giống thu thập từ các vùng đất khác nhau trong nước. Công tác tư liệu hóa và đánh giá nguồn gen của tập đoàn dừa này đang tiếp tục được thực hiện. Hiện nay đã có 41 mẫu giống dừa đã được đưa vào danh mục nguồn gen cây dừa quốc tế (CGRD). Đây là nguồn vật liệu khởi đầu vô cùng quan trọng cho công tác chọn tạo giống dừa mới [3].
Viện đã lai tạo thành công trên 20 giống dừa lai. Các giống dừa lai PB121, JVA1 và JVA2 có các đặc điểm vượt trội hơn so với giống dừa địa phương. Thời gian ra hoa sớm hơn, chỉ sau 3 năm trồng, năng suất cao (>=150 quả/cây/năm), hàm lượng dầu cao (63-68%), phù hợp với công nghiệp chế biến. Các giống dừa này đã được Nhà nước công nhận tạm thời và cho phép sản xuất thử vào năm 2004 [3].
Bên cạnh công tác lai tạo giống dừa mới, việc tuyển chọn cây đầu dòng cũng được thực hiện thường xuyên. Viện đã tuyển chọn hơn 27.000 cây dừa mẹ đạt tiêu chuẩn, tại các tỉnh có diện tích dừa tập trung từ vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long như Bến Tre, Tiền Giang và Trà Vinh,... Trong đó, tập trung nhiều nhất ở tỉnh Bến Tre với khoảng 9.000 cây, năng suất đạt > 90 quả/cây/năm đối với giống dừa cao và đạt >100 quả/cây/năm đối với giống dừa lùn. Viện đã bàn giao danh sách cây dừa mẹ tuyển chọn cho Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn các tỉnh phối hợp theo dõi, đánh giá và khai thác. Đây là nguồn cung cấp giống dừa tốt cho các địa phương, nhằm thay thế dần các giống dừa lão năng suất thấp [3].
Ngoài các giống dừa địa phương tốt như Ta, Dâu, Xiêm, Ẻo..., Viện phối hợp cơ quan chức năng thông qua dự án DA15 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và dự án "Phát triển giống dừa giai đoạn 2001 - 2005" của Bộ Công Thương, nhập nội trên 12.000 cây dừa Dứa trồng thử nghiệm tại các Trung tâm của Viện và 13 tỉnh trong cả nước. Bến Tre trồng thử nghiệm nhiều nhất (17,5 ha tương đương 2.800 cây), tập trung tại huyện Giồng Trôm và Châu Thành. Từ kết quả thử nghiệm này, tỉnh Bến Tre đã triển khai Dự án phát triển 450ha dừa Dứa. Đến nay, dừa Dứa thực sự đã trở thành giống dừa uống nước phổ biến có hiệu quả kinh tế cao, được người dân quan tâm, thị trường rất ưa chuộng [3].
Sau quá trình nghiên cứu chọn tạo giống dừa, cho đến nay đã có 5 giống dừa được Bộ NN&PTNT cho công nhận giống chính thức (bao gồm dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm, dừa Ẻo và dừa Dứa) và 6 giống dừa được công nhận tạm thời (đó là Dừa Bung, Dừa Tam Quan, dừa Sáp, Dừa lai PB121, Dừa lai JVA1 và dừa lai JVA2). Từ những kết quả nêu trên, ngày 27/7/2011, Bộ NN&PTNT đã ban hành thông tư số 51/2011/TT-BNNPTNT đã bổ sung cây dừa vào danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam [3].
Viện đã xây dựng 02 trung tâm phục vụ cho công tác nghiên cứu, ứng dụng sản xuất giống dừa tại Bến Tre và Tây Ninh, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển dừa quốc gia, gồm:
+ Trung tâm Dừa Đồng Gò: tọa lạc tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, với diện tích 60 ha. Đây là nơi chuyên nghiên cứu chọn tạo các giống dừa địa phương, lai tạo giống dừa mới có năng suất, chất lượng tốt phục vụ cho nhu cầu công nghiệp chế biến hoặc uống nước. Là nơi sản xuất các cây giống dừa địa phương chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu trồng mới, cải tạo giống của nông dân. Mỗi năm Trung tâm cung ứng khoảng 100.000 cây giống dừa, tương ứng khoảng 600 ha cho các tỉnh trồng dừa trên khắp cả nước.
+ Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng: tọa lạc tại xã Đôn Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, với diện tích 100 ha. Mặc dù, Tây Ninh không phải là vùng trồng dừa, tuy nhiên để đảm bảo được tính chính thống cho các giống dừa lai, các giống dừa có giá trị kinh tế cao (Sáp, Dứa). Viện đã đầu tư các vườn tập đoàn giống dừa mẹ với qui mô lớn tại Trảng Bàng, phục vụ cho công tác sản xuất giống thuần chủng nhằm đáp ứng cho nhu cầu trồng mới, cải tạo giống của nông dân. Mỗi năm Trung tâm cung ứng khoảng 20.000 cây giống dừa lai, dừa Dứa, dừa Sáp, tương ứng khoảng 100 ha cho các tỉnh trồng dừa trên khắp cả nước.
Viện đã và đang thực hiện Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản quốc gia đến năm 2020, với mục tiêu: Tăng nhanh tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất đại trà phù hợp với điều kiện của từng vùng, nhằm tạo ra đột phá mới về năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành...‘‘; thông qua các Dự án "Phát triển sản xuất giống dừa giai đoạn 2001 - 2005; giai đoạn 2009 - 2010 và giai đoạn 2011- 2015" nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các giống dừa mới có năng suất và hiệu quả kinh tế cao; khai thác và sử dụng có hiệu quả các giống tuyển chọn, giống mới kết hợp áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp để tăng năng suất vườn dừa lên 15-20%, góp phần ổn định và phát triển bền vững vùng nguyên liệu phục vụ nhu cầu ngành công nghiệp dầu thực vật và nâng cao thu nhập của người trồng dừa.
1.2. Nghiên cứu về kỹ thuật trồng:
Mặc dù cây dừa có thể thích ứng với nhiều loại đất khác nhau (đất cát, cát pha, thịt, sét …), nhưng tốt nhất là đất cát pha, pH từ 5,5 - 6,5. Tùy vào từng vùng đất khác nhau mà kỹ thuật trồng khác nhau:
- Đối với vùng đất thấp như đồng bằng sông Cửu Long, trồng dừa phải đào mương lên liếp nhằm tránh bị ngập trong mùa mưa. Ngoài ra, để hạn chế sự xâm nhập mặn vào cuối mùa khô, cần phải có hệ thống cống hoàn chỉnh, có thể chủ động lưu trữ nguồn nước ngọt trong mương, ngăn ngừa nước mặn, giúp cây dừa sinh trưởng, phát triển tốt. Đối với vùng đất nhiễm phèn, nên trồng dừa theo liếp đơn. Khi lên liếp, không được bốc tầng đất phèn lên mặt liếp, thiết kế hệ thống mương liếp phải thông thoáng, giúp cho việc rửa phèn tốt hơn. Ở những vùng có tầng đất canh tác mỏng, phải thiết kế bề rộng của mương liếp cho phù hợp, đảm bảo tầng đất canh tác từ 60 cm trở lên [3].
- Đối với vùng đất cát ven biển Duyên Hải Nam Trung Bộ, trồng dừa phải đào hố sâu, bón lót 1 lượng lớn phân hữu cơ từ mụn xơ dừa, dùng cây cố định thân cây con, giúp cây dừa con bám sâu trong đất tránh gió. Đặc biệt, trong mùa khô phải có chế độ tưới nước, giữ ẩm cho cây một cách hợp lý, chú ý phòng trừ sâu bệnh gây hại giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt trong giai đoạn đầu. Đây sẽ là kỹ thuật quan trọng trong việc phát triển cây dừa tại vùng đất cát ven biển Duyên Hải Nam Trung Bộ [3].
* Mật độ trồng: Thay đổi phụ thuộc vào giống, đất, kỹ thuật trồng. Đối với các giống dừa cao và dừa lai, khoảng cách 8 - 8m, tương ứng với mật độ 160 cây ha. Đối với giống dừa lùn, khoảng cách 7-7m, tương ứng với m ật độ 200 cây ha. Vùng đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dày. Nếu có trồng xen, khoảng cách có thể thưa hơn đảm bảo đủ ánh sáng, dinh dưỡng.... cho hệ thống cây trồng xen dưới tán dừa [3].
* Bón phân:
+ Đối với cây dừa Ta, Dâu đang cho trái vùng đồng bằng sông Cửu Long với lượng phân bón 70kgN + 40kg P2O5 + 110kg K2O/cây/năm sẽ cho năng suất đạt 80 trái/cây/năm, hàm lượng dầu đạt 66%, hiệu quả kinh tế cao gấp 1,6 lần so với vườn dừa bón phân theo kinh nghiệm của nông dân 1,0 kg NPK/cây/năm (NPK: 16:16:8) [3].
+ Đối với dừa lai JVA1, JVA2, bón phân ở mức 110 kg N + 57 kg P2O5 + 140 kg K2O/cây/năm, đạt năng suất, hàm lượng dầu cao nhất đạt tương ứng 155 quả/cây/năm, 68% hàm lượng dầu [3].
- Để nâng cao chất lượng sản phẩm dừa Việt Nam, cây dừa cần được sản xuất an toàn, chú ý trong việc sử dụng phân hữu cơ thay thế cho phân vô cơ. Từ năm 2006-2008, Viện nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu đã nghiên cứu ứng dụng phân hữu cơ trong canh tác dừa tại Bến Tre, kết quả cho thấy: nếu thay thế 25% lượng phân vô cơ bằng phân hữu cơ vi sinh (KOMIX), năng suất quả/cây và hiệu quả kinh tế của vườn dừa tăng gấp 2 lần so với vườn dừa bón phân theo kinh nghiệm của nông dân. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, bón bụi xơ dừa (mụn dừa) cho cây, không những làm gia tăng năng suất quả lên 10%, mà còn giúp cải tạo lý - hóa tính của đất (pH tăng từ 5,5 lên 5,7 và dung trọng của đất được cải thiện) [3].
- Đối với dừa Ta, Dâu đang cho trái vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ thì việc sử dụng phân hữu cơ sản xuất từ mụn xơ dừa không những có tác động rất tốt đến sinh trưởng, phát triển của dừa, mà còn cải thiện được tính chất của đất. Khi bón với liều lượng 2156 kg phân hữu cơ mụn dừa Thanh Thanh + 12,8 kgN + 12,8 kg P2O5 + 64,0 kg K2O/ha/năm, tương ứng 0,5kg NPK (16-16-8) + 11 kg phân hữu cơ mụn dừa + 0,6 kg KCl/cây/năm, năng suất quả đạt 64 - 72 quả/cây/năm cao gấp 2,0 - 2,2 lần so với khi chỉ bón phân vô cơ là 29 - 36 quả/cây/năm và hiệu quả kinh tế đạt 53 - 61 triệu đồng/ha/năm cao gấp 2,0 -1,8 lần so với đối chứng chỉ bón phân vô cơ chỉ đạt từ 26 - 33 triệu đồng/ha/năm [3].
 Trồng xen trong vườn dừa:
Khi trồng dừa kết hợp với việc trồng xen, nuôi xen là điều vô cùng cần thiết, nhằm sử dụng tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời và đất đai, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác, đa dạng hóa sản phẩm trong vườn dừa, góp phần gia tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người trồng dừa [3].
Thực tế cho thấy, có hơn 90% các vườn dừa ở Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng mô hình nuôi trồng xen. Tuy nhiên, hơn 50% trong số đó là trồng xen tạp, do đó thu nhập của cây trồng xen chưa cao. Một số mô hình nuôi trồng xen mang lại hiệu quả kinh tế cao, phổ biến ở vùng ĐBSCL là dừa + cacao; dừa + cây có múi; dừa + chuối; dừa + lúa; dừa + mía, dừa + tôm càng xanh, dừa + bò. Trong đó, mô hình dừa + cacao, cây cacao sau 3 năm trồng bắt đầu cho thu hoạch trái, sau 5 năm trồng cho trái ổn định, nếu vườn dừa có trồng xen cây cacao được chăm sóc tốt, thu nhập của vườn gia tăng từ 1,5 - 2 lần so với vườn dừa trồng chuyên trong cùng điều kiện; và mô hình dừa + tôm càng xanh tại Bến Tre cho hiệu quả kinh tế cao đạt 120 -150 triệu đồng ha năm, tăng gấp 1,5 - 2 lần so với vườn dừa trồng chuyên [3].
Ngược lại, so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có khoảng 20% các vườn dừa áp dụng mô hình nuôi trồng xen, với các mô hình chủ yếu như: dừa + rau má, dừa + chuối, dừa + khoai mỳ, dừa + cỏ nuôi bò cho hiệu quả kinh tế cao hơn 1,2 lần so với trồng chuyên [1].
 Bảo vệ thực vật cho cây dừa.
Xây dựng thành công quy trình phòng trừ tổng hợp Kiến Vương (Oryctes rhinoceros) hại dừa bằng chế phẩm MA (Metarrhizium anisopliae). Bằng cách xử lý chế phẩm MA vào các ổ sinh sản của kiến Vương với liều lượng 50mg/m2 có tác dụng làm chết 94-96% ấu trùng [3].
Phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM trong việc nghiên cứu ứng dụng biện pháp đấu tranh sinh học phòng trừ bọ cánh cứng (Brontispa longissima) hại dừa bằng ong ký sinh Acecodes hispinarum. Viện đã chuyển giao kinh nghiệm nhân nuôi và phòng trừ bọ dừa bằng ong ký sinh cho bà con nông dân [3].
1.3.Chế biến các sản phẩm từ cây dừa:
Từ những năm 1980, Viện đã nghiên cứu thành công qui trình công nghệ sản xuất thạch dừa, công nghệ đã chuyển giao cho nông dân, và hiện nay sản phẩm này trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Bến Tre.
Nhằm tận dụng phụ phẩm trong công nghiệp chế biến dừa như nước dừa già, bã cơm dừa,... để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc. Viện đã nghiên cứu qui trình công nghệ sản xuất probiotic từ nước dừa già, và chất tiền sinh (prebiotic). Các sản phẩm này có hiệu quả tốt đối với gia súc và gia cầm, cạnh tranh được với sản phẩm nhập nội.
Dầu dừa tinh khiết (VCO) là sản phẩm có giá trị kinh tế cao, qui trình công nghệ đã được nghiên cứu thành công và sản xuất thực nghiệm. Đồng thời, để có cơ sở pháp lý thương mại hóa sản phẩm dầu dừa tinh khiết, Viện đã xây dựng tiêu chuẩn chất lượng (TCVN) cho dầu dừa tinh khiết tại Việt Nam.
Để tạo ra nguồn giống dừa có chất lượng cao, Viện đã nghiên cứu thành công qui trình công nghệ nuôi cấy phôi dừa, đặc biệt cho giống dừa có giá trị kinh tế cao, khó nãy mầm trong điều kiện bình thường là giống dừa Sáp. Qua phương pháp này, giống dừa Sáp nuôi cấy phôi có tỷ lệ trái Sáp/quầy đạt >75%, phương pháp nuôi cấy phôi dừa cũng là công cụ thuận lợi cho quá trình trao đổi nguồn gen cây dừa giữa các quốc gia trong hệ thống bảo tồn gen quốc tế. Hiện tại, Viện đang sản xuất cây giống dừa Sáp nuôi cấy phôi (1.000 cây/năm) và cung ứng cho bà con nông dân.
Để góp phần giải quyết công nghệ trong việc xuất khẩu quả dừa tươi nguyên quả và định hướng đến việc xuất khẩu nước dừa tươi đóng chai. Viện đã nghiên cứu hoàn thiện qui trình công nghệ xử lý và bảo quản quả dừa tươi uống nước, một cách tổng thể từ khâu thu hoạch đến quản lý chất lượng sản phẩm, quả dừa tươi có thể bảo quản được ít nhất 6 tuần; và qui trình công nghệ sản xuất nước dừa tươi đóng chai với công nghệ lọc màng đã giữ được hương vị của nước dừa tươi trong 4 tuần [2].
Các sản phẩm chế biến từ mật hoa dừa: rượu cao độ, rượu vang, nước giải khát, đường dừa là sản phẩm mới từ cây dừa, góp phần gia tăng thu nhập cho người nông dân. Từ kết quả của đề tài này, Viện đang thực hiện Dự án sản xuất thực nghiệm rượu cao độ, đường từ mật hoa dừa, đưa sản phẩm ra thị trường, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch cho Bến Tre nói riêng và ĐBSCL nói chung.
1.4. Đào tạo nguồn nhân lực:
Viện đã tổ chức 50 lớp tập huấn, đào tạo kỹ thuật sản xuất giống dừa cho 2.000 cán bộ kỹ thuật, nông nghiệp, khuyến nông và người trồng dừa ở các tỉnh phía Nam thông qua Dự án "Phát triển sản xuất giống dừa", và các chương trình Khuyến nông, Khuyến công. Đào tạo này đã góp phần làm thay đổi tư duy nhận thức của nông dân về giá trị bền vững của cây dừa. Nông dân không còn chặt bỏ dừa, mà thay vào đó là chọn các giống dừa có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao, áp dụng quy trình kỹ thuật trồng hợp lý để tăng cao lợi nhuận từ canh tác dừa. Nông dân cũng hiểu rằng chế biến, đa dạng hoá các sản phẩm từ dừa sẽ mang lại thu nhập cao hơn, ổn định hơn [3].
2. Hợp tác quốc tế:
- Với tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB IFAD, giai đoạn 2002-2005 và giai đoạn 2005-2008, Dự án của Mạng lưới nguồn gen cây dừa quốc tế - COGENT mang tên "Giảm nghèo cho cộng đồng người trồng dừa" đã thiết lập được 7 cộng đồng dừa tại các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh và Bình Định. Mỗi cộng đồng đều được hướng dẫn thực hiện các nội dung chính là bảo tồn và khai thác các giống dừa có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất, tập huấn kỹ thuật thâm canh hợp lý vườn dừa (bón phân cân đối, xây dựng mô hình trồng xen, nuôi xen hợp lý), chế biến, đa dạng hóa các sản phẩm từ dừa, góp phần gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người trồng dừa. Dự án cũng hỗ trợ kinh phí cho cộng đồng thực hiện tốt các nội dung trên thông qua việc cung cấp phương tiện di chuyển cho điều phối viên cộng đồng; cung cấp cây giống tốt, thiết bị máy móc và nguồn vốn vay ưu đãi không lãi xuất...Thành công của dự án vẫn còn lan tỏa sau khi dự án đã kết thúc, giúp cho cộng đồng tiếp tục triển khai, góp phần cải thiện đời sống cho người trồng dừa, đặc biệt là người dân vùng sâu vùng xa [3].
- Trong Chương trình viện trợ của Newzealand, Dự án "Sinh kế nông thôn bền vững: kết nối hộ nông dân nghèo với thị trường", Viện cùng Ủy ban nhân tỉnh Bình Định đã nghiên cứu ngành dừa của tỉnh nhằm đánh giá được tiềm năng ngành công nghiệp dừa, phân tích các yếu tố tài chính của việc trồng và chế biến dừa, với nhiều tiểu ngành công nghiệp khác nhau, để đưa ra tính khả thi cho việc đầu tư và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Bình Định [4].
- Hiệp hội Dừa châu Á - Thái Bình Dương (APCC): Viện phối hợp với Tổng công ty công nghiệp dầu thực vật Việt Nam - VOCARIMEX, thường xuyên cung cấp trao đổi thông tin về diện tích, sản lượng dừa, tình hình chế biến, giá cả và thị trường tiêu thụ các sản phẩm, góp phần định hướng chiến lược nghiên cứu, phát triển bền vững cây dừa [3].
Tất cả những thành tựu trên đã góp phần làm thay đổi diện mạo của cây dừa Việt Nam, từ chỗ chỉ đóng góp khiêm tốn cho kinh tế của các tỉnh trồng dừa chủ yếu như Bến Tre, Trà Vinh, Bình Định… thì đến nay cây dừa đã trở thành cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cộng đồng, cả trong các lĩnh vực trồng, chế biến và xuất khẩu sản phẩm dừa, tạo công ăn việc làm, thu hút nhiều ngoại tệ trong xuất khẩu và đầu tư, tạo được thương hiệu dừa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nông dân yên tâm trồng dừa do thu nhập ổn định từ cây dừa mang lại, không còn hiện tượng phá bỏ vườn dừa, làm mất đi nguồn tài nguyên di truyền quý giá, mà một khi đã mất đi là không thể tái tạo lại được. Để dễ dàng hình dung, theo thống kê năm 2005 toàn tỉnh Bến Tre có 35.000 ha trồng dừa, đến nay diện tích trồng dừa cả tỉnh đạt trên 50.000 ha (2011), nghĩa là tăng trên 40 % diện tích dừa chỉ trong vòng 6 năm! [3].
Để cây dừa Việt Nam phát triển bền vững, trước mắt cần xây dựng một chiến lược phát triển cây dừa với một số nội dung chính như sau:
1. Chọn tạo các giống dừa có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng.
2. Áp dụng đúng quy trình kỹ thuật trồng và xây dựng mô hình nuôi trồng xen hợp lý, nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế của vườn dừa.
3. Đẩy mạnh khâu chế biến, tập trung vào các sản phẩm có giá trị thương mại cao như dầu dừa tinh khiết (VCO), cơm dừa nạo sấy, than hoạt tính, rượu dừa (làm từ mật hoa dừa),...
4. Tiếp cận nhanh các quy trình công nghệ chế biến tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm từ dừa.
5. Mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm dừa Việt Nam trên thị trường thế giới.
6. Kêu gọi nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
7. Xây dựng chính sách đầu tư ưu đãi dài hạn cho cho cây dừa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Lưu Quốc Thắng, 2013: Báo cáo tổng kết đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sản xuất từ mụn xơ dừa đến quá trình sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế vườn dừa vùng đất cát Duyên hải Nam Trung Bộ".
2. Trần Yên Thảo, 2013: Báo cáo tổng kết đề tài: "Nghiên cứu công nghệ sản xuất nước dừa tươi đóng chai".
3. Viện nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu, 2012: Cây dừa - Kết quả nghiên cứu và phát triển in trong Hội thảo Khoa học “Nâng cao chuỗi giá trị cây dừa Bến Tre Festival dừa Bến Tre lần thứ 3.
4. Tập đoàn URS, 2011: Báo cáo Dự án sinh kế nông thôn bền vững tỉnh Bình Định: Kết nối hộ nông dân nghèo với thị trường.
 
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU
171 – 175 Ham Nghi street, Dist., 1. HoChiMinh City, Vietnam.
Website:  www.ioop.org.vn
 

 

 


Bài đăng trong: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Cây dừa Việt Nam - Giá trị và tiềm năng",
do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh in và phát hành tháng 8 năm 2014.
 

Các tin khác:
Giá trị văn hóa làng nghề dừa Cồn Phụng ở Châu Thành - Bến Tre
Kết quả nghiên cứu giống dừa Dứa
Dừa Sáp Cầu Kè, Trà Vinh - Đặc điểm và giá trị
Nghề trồng dừa ở Bến Tre trong văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh thái văn hóa
Cây dừa Bến Tre - Thực trạng và giải pháp
Tìm hiểu vai trò của cây dừa trong việc bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Cây dừa - Cây của cuộc sống - Cây dừa trước nguy cơ biến đổi khí hậu
Cây dừa trong ẩm thực của người dân Bến Tre
Ẩm thực dừa ở Bến Tre từ góc nhìn địa văn hóa
Cây dừa Việt Nam với ngành du lịch đương đại: Nhìn từ góc độ cộng đồng địa phương và khách du lịch
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Cơ sở SX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Kẹo dừa Thanhh Long
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 25.723.669
Online: 40
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun