Danh mục
VĂN BẢN MỚI
THƯƠNG HIỆU
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DN & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QTKD
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (ICC)
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TIN CÔNG NGHỆ
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Giá trị văn hóa làng nghề dừa Cồn Phụng ở Châu Thành - Bến Tre
16-12-2014

Trần Thị Kim Ly - ThS. Cảng vụ Hàng không Việt Nam

Giá trị văn hóa làng nghề dừa Cồn Phụng ở Châu Thành - Bến Tre

Cây dừa từ lâu đã gắn bó với người dân Bến Tre và là một phần không thể thiếu trong văn hóa Bến Tre. Cây dừa có mặt trong cái ăn, cái ở, sinh hoạt của cư dân Bến Tre. Bằng đôi bàn tay khéo léo và sự nhạy bén của mình, người dân Cồn Phụng ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tận dụng thời gian nông nhàn và nguồn nguyên liệu dừa sẵn có tại đây để tạo ra những vật dụng gia đình và các sản phẩm mỹ nghệ để làm đẹp thêm cuộc sống. Từ đây làng nghề thủ công từ dừa ở Cồn Phụng được hình thành. Với khoảng 60 năm hình thành, nhưng làng nghề đã có những đóng góp vào trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân, của địa phương.
Từ khóa: giá trị văn hóa, làng nghề, sản phẩm mỹ nghệ, vật chất, tinh thần
1. Tổng quan về làng nghề dừa Cồn Phụng
1.1. Lịch sử hình thành làng nghề thủ công dừa ở Cồn Phụng
Cồn Phụng là cù lao nổi giữa sông Tiền, rộng khoảng 30ha, bên cửa ngõ đi vào tỉnh Bến Tre, cách thành phố Bến Tre 12km, thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành. Làng nghề sản xuất hàng thủ công từ dừa ở Cồn Phụng được hình thành từ những năm 1960 của thế kỷ XX và phát triển cho đến ngày nay. Đây là nghề hoạt động thâm dụng theo hướng lao động, hầu hết đều sản xuất dưới dạng hộ kinh tế gia đình. Các sản phẩm truyền thống của làng nghề rất đa dạng, từ hàng gia dụng cho đến các sản phẩm mỹ nghệ trang trí.
Theo lời kể của một số cụ già nơi đây, người đầu tiên sử dụng dừa ở Cồn Phụng là ông đạo Dừa, trong quyển “Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa” của Huỳnh Minh có nói về việc ông Đạo Dừa dựng cây cột bằng dừa ở xã Phước Thạnh năm 1952: “Tu sĩ Nguyễn Thành Nam ra kiểu làm một Bát quái đài bằng cột dừa cao 14m dựng dưới mương, chung quanh có dây sắt chằng chịt, sợ khi giông to gió lớn1. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng việc sử dụng dừa để tạo ra các vật dụng phục vụ cho đời sống hàng ngày ở đây đã có từ lâu. Do trong chiến tranh, những vườn dừa ở đây bị tàn phá vô cùng nặng nề, ông Sáu Phổ, là một trong những cư dân ở đây đã tận dụng những thân dừa bị gãy để làm ra đũa dùng trong gia đình, dần dà bán cho những người trong khu vực. Khi nhu cầu tăng, ông đã tập hợp mọi người về đây và trực tiếp chỉ dạy cách làm.
Nghề thủ công từ dừa ở Cồn Phụng cũng vậy. Từ việc tập họp nhiều người về Cồn Phụng để sản xuất các mặt hàng gia dụng của ông Sáu Phổ, dần dà theo thời gian, nghề thủ công này phát triển ra cộng đồng. Từ nghề phụ chỉ phục vụ nhu cầu riêng trong gia đình, khi xã hội có nhu cầu thì các sản phẩm từ dừa trở thành hàng hóa để trao đổi và mang lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào trồng trọt và chăn nuôi. Từ chỗ một vài gia đình trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra trong cộng đồng tại đây và thu hút một bộ phận từ nơi khác đến tham gia. Khi nghề được phổ biến trong cộng đồng thì mẫu mã và chủng loại của các sản phẩm từ dừa cũng phát triển theo. Kết hợp với óc sáng tạo và sự khéo léo của mỗi người mà các sản phẩm làm ra ngày càng đa dạng và phong phú hơn.
Trải qua quá trình lịch sử hình thành vùng đất Bến Tre, làng nghề thủ công từ dừa Cồn Phụng ở Tân Thạch được khởi đầu từ một làng nghề thủ công gia dụng, chuyên sản xuất các mặt hàng dùng trong gia đình, nhưng có sự đầu tư của Nhà nước và xu hướng phát triển của xã hội nên hiện nay đã trở thành làng nghề thủ công có sức phát triển mạnh.
1.2.Tổ chức làng nghề
Nguồn gốc của cư dân Nam Bộ nói chung và ở làng nghề Cồn Phụng nói riêng phần lớn là từ miền Trung và miền Bắc, khi từ bỏ quê hương đi đến vùng đất mới, họ vẫn mang theo cách thức tổ chức cộng đồng như ở quê cũ. Một trong những cách thức tổ chức phổ biến nhất là cách tổ chức làng theo quan hệ huyết thống: gia đình và gia tộc. Tuy nhiên, mối gắn kết gia tộc ở Nam Bộ nói chung và ở Bến Tre nói riêng không chặt chẽ như ở miền Bắc và miền Trung, đơn vị gia đình hạt nhân có vai trò quan trọng hơn cả. Ngoài ra, mối quan hệ xóm làng cũng được đề cao ở đây, “bán bà con xa mua láng giềng gần”. Các mối quan hệ này được thể hiện rất rõ trong quan hệ sản xuất của làng nghề.
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những công đoạn nặng nhọc. Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo thì vai trò của các nghệ nhân - chủ cơ sở/chủ hộ sản xuất rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật.
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động lành nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông trung học ở các cơ sở sản xuất và các hộ chuyên làm nghề này chiếm 60%, họ học nghề tại cơ sở làm việc theo kiểu vừa làm vừa học và tùy theo tay nghề mà được trả lương khác nhau. Đối với các chủ hộ và chủ cơ sở, nhìn chung trình độ học vấn là lớp 8 - 9/12 và tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm tới 90%2. Đây là một trong những hạn chế có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.
Việc tạo ra những sản phẩm từ những người dân của làng trong khi họ nhàn rỗi, từ trẻ con cho đến người già cũng có thể giúp một tay để góp phần vào việc tăng thu nhập cho gia đình. Hiện tại, làng nghề có khoảng 30% số hộ tham gia sản xuất các mặt hàng thủ công từ dừa.
Phát triển làng nghề tạo điều kiện cho người dân kiếm thêm thu nhập lúc nông nhàn, vì thế loại hình kinh tế hộ gia đình là hình thức phù hợp nhất. Hình thức hợp tác xã đã từng tồn tại ở làng nghề Cồn Phụng với mục đích sản xuất, thu gom, tối ưu hóa mẫu mã, nhưng do hoạt động không mang lại hiệu quả nên chỉ tồn tại một thời gian và giải thể, hình thức hộ gia đình vẫn chiếm ưu thế.
Với nguồn vốn nhỏ, các hộ gia đình cũng có khả năng là hộ sản xuất với sản phẩm nghề truyền thống của làng. Chẳng hạn, hộ sản xuất đũa, muỗng ăn thì chỉ cần vài triệu đồng là có thể sản xuất. Ngoài ra, họ có thể nhận hàng về nhà làm gia công. Với hình thức này thì người lao động không phải bỏ vốn, họ sẽ được chủ cơ sở sản xuất cung cấp công cụ cũng như vật liệu sản xuất.
Vấn đề về sản xuất kinh doanh trong làng nghề chủ yếu hoạt động dưới dạng làm công ngày hoặc tháng. Hình thức này không bó buộc thời gian của người lao động nhiều nên thu hút được nhiều người tham gia khi nhàn rỗi. Tuy nhiên, chính vì không bó buộc thời gian mà người lao động không thật sự gắn bó lâu dài với nghề.
Trước đây, khi làng nghề Cồn Phụng chưa phát triển mạnh thì sản phẩm làm ra chỉ để tiêu dùng trong gia đình và một số bán cho người trong vùng. Ngày nay, nhờ có chính sách khuyến khích đầu tư để khôi phục làng nghề thủ công của UBND tỉnh Bến Tre, sản lượng hàng thủ công tăng lên đáng kể. Từ đó, sản phẩm của làng nghề không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân trong vùng mà còn được tiêu thụ ở một số tỉnh từ Bắc chí Nam và xuất khẩu sang nước ngoài.
Đối với thị trường trong nước, sản phẩm làm ra được cung cấp cho một số điểm du lịch trong tỉnh như các khu lưu niệm, phòng trưng bày như Phan Thiết, Vũng Tàu và một số điểm du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long như Cần Thơ, Tiền Giang,… Ngoài ra, còn cung cấp cho một số tiểu thương ở thành phố Hồ Chí Minh như chợ Bến Thành, chợ An Đông, các nhà sách, siêu thị, một số điểm du lịch ở Hà Nội.
Đặc điểm nổi bật của làng nghề ở đây, vừa là nơi sản xuất vừa là nơi bán sản phẩm, cũng là nơi sinh sống của người thợ thủ công, đó là một điểm thu hút khách du lịch. Ngoài ra, Cồn Phụng còn có khu di tích Đạo Dừa nên đây cũng là điểm tham quan của khách du lịch, nhờ đó mà các sản phẩm thủ công từ dừa cũng có chỗ đứng tại nơi nó được sinh ra. Số lượng bán tại chỗ tuy không nhiều bằng các hợp đồng từ nơi khác đến, nhưng lợi ích lớn nhất của nó lại là theo kiểu “miệng truyền miệng”. Đó mới chính là giá trị lớn lao mà khu du lịch này mang lại cho làng nghề.
Nhìn chung thị trường trong nước của làng nghề đều có tầm “phủ sóng” chưa rộng và thị trường tiềm năng nhất chính là thị trường nước ngoài. Trong những năm gần đây, sản phẩm của làng nghề hướng đến thị trường nước ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippine... Những nước này thường đặt hàng theo mẫu có sẵn với số lượng lớn. Các đơn đặt hàng này đòi hỏi phải chính xác cao và đúng hạn. Hàng hóa không đảm bảo chất lượng sẽ bị trả lại, người sản xuất phải chịu tổn thất hoàn toàn.
Sản phẩm mỹ nghệ và hàng trang trí của làng nghề Cồn Phụng xuất sang thị trường một vài nước châu Âu năm 2009 với 312.000 sản phẩm doanh thu đạt được 6,9 tỷ đồng, chiếm 4,6% so với tổng doanh thu trên địa bàn3.
Sản xuất sản phẩm thủ công từ dừa mang lại lợi nhuận rất cao, các sản phẩm sản xuất ra của làng nghề mang đậm nét đặc trưng của tỉnh, được nhiều người biết đến. Làng nghề đã góp phần tạo ra được nhiều sản phẩm tham gia thị trường xuất khẩu, mang lại ngoại tệ đáng kể cho địa phương. Tuy nhiên, mẫu mã còn rất hạn chế và xuất khẩu sang các nước châu Âu chưa nhiều nên sẽ rất khó đứng vững trên thị trường, nhất là các thị trường khó tính như lời nhận xét của ông Đỗ Kim Lang - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương tại hội thảo “Hàng Việt Nam - Tự hào với thiết kế sản phẩm sáng tạo” ngày 8/8/2012: “Sở dĩ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang có hạn chế, đó là do khâu thiết kế kiểu dáng sản phẩm vẫn còn nhiều yếu kém. Khả năng tự thiết kế ra sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn mang tính truyền thống, mẫu mã đơn điệu, sự sáng tạo riêng của sản phẩm vẫn còn yếu, chưa điều chỉnh thích nghi với thị trường. Có một số doanh nghiệp copy mẫu mã của công ty khác vô hình chung làm giảm tính sáng tạo, tính hấp dẫn của sản phẩm, ảnh hưởng tới việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ4.
1.3. Đặc điểm chung của các sản phẩm làng nghề dừa Cồn Phụng
Sản xuất ở làng nghề Cồn Phụng mang tính thủ công, vì hầu hết các công đoạn sản xuất ở đây đều dựa vào bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của người thợ vừa là người nghệ sỹ thực thụ, mỗi sản phẩm họ tạo ra mặc dù có sự tương đồng về hình dáng, cấu trúc nhưng mỗi sản phẩm lại mang một linh hồn khác nhau. Không những thế, sản phẩm mà họ làm ra vừa có giá trị sử dụng lại vừa mang dấu ấn bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một vùng quê. Những sản phẩm này là cả một kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc vì “tất cả các hiện tượng văn hóa dân gian đều gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất và chiến đấu và sinh hoạt của nhân dân. Nghệ thuật tạo hình dân gian tất nhiên không thoát ly khỏi tính chất chung và cơ bản ấy của folklore”5.
Hoạt động sản xuất thủ công ở làng nghề Cồn Phụng được xem là một hiện tượng văn hóa dân gian, vì nó gắn bó trực tiếp với việc con người nơi đây. Con người sử dụng nguồn nguyên liệu dừa có sẵn trong tự nhiên để sản xuất ra những vật phẩm thiết yếu gắn liền với cuộc sống hàng ngày, đó là những đôi đũa, túi xách, gáo múc nước,… Nhưng không chỉ dừng lại ở đó mà người thợ đã thổi vào đó những giá trị thẩm mỹ. Một đôi đũa được tạo hình tròn, hình vuông, hay kết hợp nhiều loại gỗ khác nhau, gắn thêm xà cừ hoặc chạm trổ hoa văn trang trí làm cho đôi đũa vượt ra khỏi giá trị sử dụng mà tiến lên một Bước cao hơn là tính thẩm mỹ. Sản phẩm làng nghề có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, nó vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí. Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Từ gáo dừa, trước đây được dùng làm nhiên liệu, thì giờ đây được tạo thành những chiếc túi xách độc đáo. Cũng có thể dùng hai mặt của gáo dừa ốp vào nhau để tạo thành một chiếc túi xách đơn giản, nhưng khi cắt gáo dừa thành nhiều mảnh hình vuông hình tròn để kết lại thành túi xách thì chiếc túi xách mang tính thẩm mỹ cao hơn, vừa thể hiện sự tinh tế về thẩm mỹ vừa thể hiện tính ích dụng của một chiếc túi xách.
Con người vốn xuất thân từ thiên nhiên, là sản phẩm của tự nhiên và sống dưới sự che chở của Mẹ Tự nhiên, vì thế những gì thuộc về tự nhiên đã ăn sâu vào tâm thức sống của họ. Vì vậy, cách họ nghĩ sẽ quyết định cách họ làm, cách tạo hình của các sản phẩm mỹ nghệ đã thể hiện quan niệm sống gắn bó với thiên nhiên và chủ đề của các sản phẩm thủ công là về thiên nhiên và các con vật gần gũi với con người nơi đây. Từ những mảnh gỗ nhỏ mà người thợ có thể tạo thành cây dừa thu nhỏ, hay từ những trái “dừa điếc” tạo ra một chú khỉ “Ba không” ngộ nghĩnh, một chú heo hoặc mèo bỏ ống tiền cho các em nhỏ xinh xắn từ gáo dừa. Ngoài ra, còn có các tạo hình cá, chim, tàu thuyền, … những chủ đề đó rất gần gũi với con người của vùng sông nước, sống hòa hợp với thiên nhiên.
Cây dừa từ lâu là loại cây có rất nhiều công dụng và được gọi là “cây của sự sống”. Từ lá dừa, tàu dừa, rễ dừa để làm nhiên liệu đốt, trái dừa là một loại nguyên liệu đặc biệt của ẩm thực, gỗ dừa dùng lấy gỗ… Không chỉ dừng lại ở đó, từ lá dừa các em nhỏ đã tạo ra những chú chim, rết, đồng hồ, vòng tay,… trong những cuộc chơi bán hàng; chỉ từ trái dừa mà có không ít công dụng, vỏ dừa dùng làm nhiên liệu đốt, sau này được dùng để se chỉ tạo ra các mặt hàng thủ công; gỗ dừa dùng làm vật liệu xây dựng hay đóng bàn ghế trong gia đình,… có thể nói không có bộ phận nào của cây dừa là không thể sử dụng được. Tính đa dạng của sản phẩm thủ công từ dừa không chỉ ở nguyên liệu mà sản phẩm của nó cũng không kém phần phong phú, mỗi loại nguyên liệu dừa có thể tạo ra nhiều sản phẩm thủ công với những sắc thái khác nhau, cho người sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Tưởng tượng ra được mẫu nào, kể cả thấy trong phim ảnh, báo chí là các “nông dân khéo tay” quyết mài mò, đẻo gọt để chế tác nên hàng trăm mẫu sản phẩm độc đáo bằng dừa, thay cho các loại nguyên liệu khác như gỗ rừng, nhựa, nhôm, sành.
Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề thủ công ở Việt Nam nói chung và làng nghề dừa ở Cồn Phụng nói riêng đều tồn tại ở nông thôn. Nghề xuất hiện trong làng ở nông thôn nhưng sau đó được tách dần nhưng không tách rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công đan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân.
Vì là thủ công nên công nghệ kỹ thuật sản xuất, công cụ của làng nghề rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Nhiều loại sản phẩm phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số công đoạn được sản xuất bằng máy.
2. Giá trị của làng nghề và các sản phẩm của làng nghề:
2.1. Trong đời sống văn hóa vật chất
2.1.1. Giá trị kinh tế
Làng nghề Cồn Phụng sinh ra, tồn tại và phát triển trên cơ sở của một nền nông nghiệp ruộng nước và làm vườn, người dân đã tận dụng thời gian nông nhàn để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân. Ngày nay, người thợ nơi đây không chỉ tận dụng thời gian nông nhàn để tham gia sản xuất trong làng nghề nữa mà hầu như họ dành hẳn phần lớn thời gian và công sức cho nghề này, các sản phẩm làm ra không chỉ là đồ gia dụng phục vụ cho nhu cầu của gia đình mà còn có các mặt hàng mỹ nghệ tinh xảo. Vì thế làng nghề này có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây.
Từ khi tham gia vào hoạt động của làng nghề, đời sống vật chất của người dân không ngừng được cải thiện. Biểu hiện rõ nét nhất là hiện nay ở Cồn Phụng có 15 hộ là cơ sở sản xuất, 20 hộ làm gia công cho các cơ sở sản xuất trong tổng số hơn 150 hộ tại Cồn Phụng, mỗi cơ sở có từ 3 đến 5 lao động làm thuê với mức thu nhập từ 3 triệu đồng đối với lao động có tay nghề và khoảng 2 triệu đồng đối với các lao động phụ. Mức thu nhập này cao hơn mức thu nhập năm 2006 từ 700.000 đồng đến 1 triệu đồng. So với lao động làm thuê hàng ngày tại địa phương thì mức thu  nhập của lao động có tay nghề trong làng nghề Cồn Phụng cao hơn khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng và công việc cũng khá ổn định6. Chính vì lao động ở đây không có hợp đồng lao động, không có cơ sở pháp lý để ràng buộc người lao động phụ gắn bó với nghề lâu dài, khi có điều kiện tốt hơn là những lao động phụ này sẵn sàng từ bỏ nghề, chỉ có những lao động chính với mức thu nhập tương đối mới gắn bó đuợc với nghề. Đó cũng là một trong những khó khăn mà làng nghề này gặp phải khi vào mùa cao điểm.
Bảng so sánh thu nhập từ nghề thủ công từ dừa của một số hộ đi làm thuê ở làng nghề Cồn Phụng với sản xuất chăn nuôi và trồng trọt.7(triệu đồng)
 

TT
Họ và tên chủ hộ
Số nhân khẩu
Số lao động
Tổng thu nhập
Thu nhập từ chăn nuôi
Thu nhập từ trồng trọt
Thu nhập
từ tham gia sản xuất tại làng nghề
Tỷ lệ
thu nhập từ sản xuất làng nghề dừa
1
Trần Văn Hải
5
3
10,2
1,5
1,2
7,5
73,5%
2
Nguyễn Ngọc Trơn
3
2
4,6
1,3
6
2,7
58,6%
3
Trần Ngọc Tuấn
4
2
4,9
1,4
8
2,7
55,1%
4
Nguyễn Văn Hiếu
4
2
5,5
5
 
5
90,9%
5
Mai Ngọc Hoa
7
4
10,3
1,2
4
8,7
84,4%

 
Đối với các hộ làm gia công thì đa số xem đây là nghề kiếm thêm thu nhập vào lúc nông nhàn hoặc có thể xem là thu nhập chính của một số hộ không có điều kiện tự sản xuất. Nhưng nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của họ cũng dần được nâng cao. Giờ đây nhiều hộ gia đình đã có xe máy, tivi, trang bị một số máy móc đơn giản để thuận tiện hơn trong sản xuất hàng thủ công cũng như sản xuất nông nghiệp.
Với một nền kinh tế chưa phát triển cao, lấy nông nghiệp làm nền tảng như Bến Tre, thì kinh tế gia đình, nhất là nghề thủ công lại càng có ý nghĩa hơn. Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân tại chỗ mà còn giải quyết một lượng lao động nhàn rỗi tại đây, góp phần nâng cao mức sống của người dân.
Ngoài ra, người thợ thủ công ở Cồn Phụng còn biến những thứ bỏ đi thành tiền. Từ những phế phẩm như vỏ dừa, gáo dừa hay những khúc gỗ, người thợ thủ công đã tận dụng để tạo thành những vật dụng hay đồ trang trí có ích phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày của con người như cái chén, đôi đũa, bộ ấm trà, những con thú ngộ nghĩnh, dễ thương…Những sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật chất hay nói cách khác là lao động làm ra cái duy trì cuộc sống là nét đặc trưng cơ bản nhất cấu thành văn hóa vật chất của làng nghề.
2.1.2. Giải quyết việc làm 
Làng nghề Cồn Phụng đã giải quyết việc làm cho một số cư dân lao động trong vùng. Để làm nghề thủ công truyền thống, người thợ không cần có quá nhiều vốn, không cần có trình độ học vấn cao mà chỉ cần một ít dụng cụ thủ công và một vài máy móc đơn giản cùng với đôi bàn tay khéo léo và sự siêng năng cần mẫn. Với điều kiện như thế, làng nghề đã thu hút được nhiều lao động so với các ngành nghề khác. Làng nghề thủ công Cồn Phụng không chỉ tạo việc làm cho cư dân trong vùng mà còn tạo việc làm cho những lao động ở các vùng lân cận, nhưng chủ yếu vẫn là trong phạm vi của làng.
Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện như các cơ sở cưa xẻ gỗ, các cơ sở thu mua, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Đặc biệt là làng nghề còn thúc đẩy ngành du lịch và các ngành dịch vụ có liên quan xuất hiện. Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch là hai nhân tố có tác động hai chiều.
2.1.3. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi thu được từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp. Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành công nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn. Vì vậy, việc phát triển các làng nghề truyền thống nói chung và làng nghề Cồn Phụng nói riêng đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất ở làng nghề cho thu nhập cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Với nguồn nguyên liệu dồi dào tại Bến Tre, người thợ từng bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, các cơ sở sản xuất có quy mô lớn nhanh chóng chuyển sang đầu tư hẳn cho việc sản xuất thủ công dừa, đặc biệt là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và ngoài nước.
Trên nhiều phương diện, nền kinh tế ở các vùng nông thôn Việt Nam luôn phát triển song hành với sự phát triển làng nghề và ở Cồn Phụng cũng vậy. Trong những năm gần đây, bộ mặt làng nghề đang thay đổi nhanh chóng do Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và khuyến khích xuất khẩu. Do thúc đẩy sản xuất thủ công đã trở thành chủ trương chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước nên làng nghề đang được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng ổn định ở khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm cho người dân trong vùng và giảm nhẹ áp lực dân số xã hội. Bởi vì tiểu thủ công nghiệp là bộ phận cơ bản trong hộ kinh tế cá thể mà ở Cồn Phụng số lượng hộ kinh tế cá thể là thế mạnh, mỗi cơ sở sản xuất thường xuyên thuê mướn từ 3-5 lao động hoặc nhiều hơn nữa theo thời vụ, đặc biệt là cả làng có đến 20 trong tổng số 150 hộ tại làng nghề tham gia sản xuất gia công cho 15 cơ sở sản xuất tại đây8. Vì thế, khu vực này tạo việc làm và thu nhập cho một lực lượng lao động rất lớn, đồng thời cũng là biện pháp giảm áp lực di chuyển nhân lực từ nông thôn ra thành thị theo xu hướng đô thị hóa tập trung. Vì vậy, phát triển làng nghề, ngoài vai trò kinh tế, còn có ý nghĩa xã hội rất quan trọng.
Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ du lịch được phát triển hơn, hoạt động sản xuất thu hút nhiều lao động hơn. Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất của làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ mua bán ở nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động.
Theo một điều tra của Liên minh HTX Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long có 188 làng nghề9 và làng nghề Cồn Phụng là một trong số làng nghề có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thiết thực giải quyết những vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân, cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập, tôn vinh đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam.
2.2. Trong đời sống văn hóa tinh thần
2.2.1. Lưu giữ giá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ trên các sản phẩm thủ công dừa ở Cồn Phụng được thể hiện ở nhiều góc độ như: màu sắc, nghệ thuật tạo hình, chủ đề của tác phẩm.
Gỗ và gáo dừa có độ cứng và bền cao, khi được mài bóng sẽ hiện rõ những đường vân đẹp mắt vì vậy khi dùng để làm nhà ở, hay tạo thành các sản phẩm thủ công gia dụng hoặc đồ mỹ nghệ thì người thợ không sơn màu và chỉ phun nước bóng lên để sản phẩm tạo ra được bền và đẹp hơn.
Đối với các sản phẩm của nghề thủ công dừa tuy không có giá trị lớn lao về mặt vật chất, song với chức năng, công dụng và tính đa dạng về loại hình, chúng có một vị trí khá quan trọng trong đời sống của người dân Bến Tre. Ban đầu, các sản phẩm gáo múc nước, chén đũa,… ra đời chỉ phục vụ cho mục đích sử dụng, càng về sau chúng càng được cải tiến mẫu mã, cách trang trí,… tạo nên giá trị thẩm mỹ, đặc trưng văn hóa độc đáo của địa phương. Chỉ bằng những phần bỏ đi hoặc được làm củi đốt như gáo dừa thì trước đây người dân Cồn Phụng đã tận dụng để làm gáo múc nước hoặc làm chén ăn cơm, thì ngày nay, gáo dừa được dùng để làm túi xách chẳng hạn. Những chiếc túi xách từ gáo dừa được tạo ra không chỉ mang giá trị về mặt sử dụng mà còn có giá trị th ẩm mỹ, nghệ thuật. Đơn giản nhất là dùng một gáo dừa bổ đôi ghép lại để tạo ra chiếc túi xách tròn xinh xắn, cầu kỳ hơn người thợ sẽ cưa nhỏ gáo dừa thành nhiều mảnh nhỏ và ghép lại với nhau để tạo thành những chiếc túi xách hình vuông, hình chữ nhật rất thời trang.
Gỗ dừa thì có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn nữa. Trước đây, gỗ dừa được dùng làm nhà ở, thì ngày nay ngoài công dụng đó, gỗ dừa còn được dùng để tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo hơn. Chủ đề của các sản phẩm mỹ nghệ thường gắn liền với đ ời sống của người dân nơi vùng đất “miệt vườn” này. Chủ đề thường là các loại cây cảnh, chim thú trong tự nhiên vốn gần gũi với con người nơi đây. Đó là gạt tàn thuốc hình rùa (Long – Lân – Quy – Phụng), những chú cá gỗ, chim muông, hay hình cây mai (Mai – Lan – Cúc – Trúc), và không thể nào thiếu được tạo hình cây dừa với lá, thân, hoa và chùm quả trĩu nặng vốn là “cây nuôi sống con người” nơi đây từ bao đời nay. Cho dù tạo hình theo kiểu nào và bằng chất liệu gỗ hay gáo dừa đi nữa thì vẫn nghiêng về xu hướng tả thực, gần gũi với đời sống của con người. Có thể nói, các chủ đề của các sản phẩm thủ công từ dừa là những tác phẩm nghệ thuật dân gian vì nó đã thể hiện thế giới xung quanh một cách sinh động bằng đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của con người. Đó là những biểu hiện tư duy thẩm mỹ một cách tinh tế, kín đáo, hài hòa, phản ánh sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên.
2.2.2. Thể hiện nếp sống vùng miền
Thông thường, mỗi nghề có một Tổ nghề và người theo nghề phải thờ cúng Tổ nghề của mình, nhưng người thợ ở Cồn Phụng không có lệ thờ và cúng Tổ, họ chỉ vái trời, cầu xin những người khuất mặt trong các ngày mùng 2 và 16 âm lịch hàng tháng để cầu xin sự bình an, suôn sẻ trong công việc, không bị những vong hồn phá phách trong công việc và điều này trở thành một “nét văn hóa” của nghề thủ công nơi đây cho thấy con người vẫn còn bị ràng buộc với thiên nhiên, với một thế giới mình không làm chủ hoàn toàn.
Nếu như lối sản xuất nông nghiệp đã tạo cho người nông dân kiểu tư duy “tùy hứng” không bó buộc về thời gian, khuôn mẫu, liều lượng,… và ở Cồn Phụng cũng vậy, người thợ thủ công ở Cồn Phụng tạo ra sản phẩm mà không cần đến bản vẽ thiết kế có sẵn, cứ tùy nghi mà làm rồi “ra sao thì ra”, “lành làm gáo, vỡ làm môi”. Đôi khi méo mó một chút lại có cái hay riêng của nó. Họ cứ để cho mạch sáng tạo được tuôn chảy một cách tự nhiên, nhưng khi dòng sáng tạo đó bị dừng lại thì “để mai tính tiếp”, “dễ làm, khó bỏ” là thói quen của người Việt. Đó cũng chính là hạn chế trong cách sản xuất người người thợ Cồn Phụng trong thời đại sản xuất theo đơn đặt hàng ngày nay.
2.2.3. Bảo tồn và phát triển bản sắc vùng
“Khi nói đến bản sắc văn hóa là nói đến cái phần ổn định trong văn hóa. Nhưng cái phần ổn định này không phải là một vật, mà là một quan hệ, cho nên không thể nào nhìn thấy nó bằng mắt được”10.
Nghề thủ công dừa ở Cồn Phụng truyền nghề không dành riêng cha hoặc mẹ truyền cho con trai hay con gái mà bất kể trai hay gái gì cũng có thể làm được hầu hết các công đoạn, chỉ trừ một số công đoạn nặng nhọc như xẻ gỗ thì mới cần đến sức mạnh cơ bắp. Vì vậy, từ nhỏ con cái đã có thể phụ giúp gia đình làm một số việc từ nhẹ đến nặng như phơi, đóng gói sản phẩm, từ đơn giản đến phức tạp như mài, đánh bóng sản phẩm. Công việc hàng ngày sẽ là những bài học thực tế sinh động đối với các em. Quá trình học đã rèn luyện đôi bàn tay khéo léo, óc thẩm mỹ tinh tế, đức tính kiên trì. Đó là những tài sản quý giá mà các thế hệ đi trước đã để lại cho đời sau. Ngoài ra, địa bàn của làng nghề cũng là nơi sinh sống của người thợ thủ công, người lao động; là nơi mà con người vừa sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm do mình làm ra. Vì vậy, làng nghề chính là nơi cư trú - làng, nơi từng hộ gia đình ăn, ở, sinh hoạt - nhà cửa, nơi trưng bày sản phẩm - cửa hàng, nơi sản xuất, nhà xưởng, công cụ, phương tiện để chế tạo sản phẩm… của làng nghề đã có từ hàng chục năm nay, tuy đời sau có khác đời trước nhưng khuôn mẫu vẫn như xưa. Tất cả đều cấu thành nên đặc trưng văn hóa của làng nghề và đó cũng chính là bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Nghề thủ công dừa tuy mang tính chất gia đình, nhưng do nhu cầu lưu giữ nghề mà những bí quyết của họ không khép kín trong khuôn viên gia đình mà còn được truyền dạy cho các người làm công, người học việc ở đây. Họ không giấu nghề mà mọi người đều có thể tìm hiểu, quan sát, họ sẵn lòng chỉ dạy, hướng dẫn cách làm trong tất cả các công đoạn. Họ cùng trao đổi nhau để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao. Vì vậy, mà một lớp thợ có tay nghề mang tính chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp không tham gia vào công việc nông nghiệp nữa mà chú tâm vào làm nghề.
Phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc “lá lành đùm lá rách”, những người thợ của làng nghề còn giúp đỡ, liên kết với nhau khi những người thợ khác gặp khó khăn. Chẳng hạn, trong trường hợp một cơ sở sản xuất đến thời hạn phải giao hàng mà chưa đủ số lượng thì có thể vay mượn hoặc mua của cơ sở khác với cùng loại sản phẩm. Nếu trong quá trình sản xuất mà thiếu nhân công hay công cụ sản xuất thì họ nhờ đến sự hỗ trợ của các cơ sở khác… Đó là những việc làm không nhỏ và mang tính thiết thực, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, tạo mối liên hệ gắn bó trong cộng đồng, mọi người yên tâm cùng nhau góp tay đưa làng nghề đi lên ngày càng tiến bộ.
Chính những hoạt động sản xuất hàng ngày trong các làng nghề đã góp phần gìn giữ nghề thủ công của dân tộc, mang đặc trưng sinh thái của một vùng. Cũng qua các sản phẩm của làng nghề mà người chiêm ngưỡng những giá trị văn hóa đó có thể hiểu được phần nào về phong tục tập quán, tâm hồn của con người nơi đây. Đó là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc.
Làng nghề thủ công Cồn Phụng đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó cho thấy kinh tế và văn hóa là hai nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển đất nước vì “kinh tế có thể bắt rễ trong văn hóa”11. Có thể nói sự phát triển làng nghề thủ công dừa ở Cồn Phụng đã tác động không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán của những chủ nhân mà nơi nó được sinh ra, từ đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của vùng đất này.
Kết luận
Làng nghề Cồn Phụng xuất phát ban đầu là làng nghề mang tính tự cấp tự túc và trở thành làng nghề sản xuất hàng hóa. Đó là kết quả tất yếu của tinh thần lao động sáng tạo không mệt mỏi và phẩm chất cần cù chịu thương chịu khó của người dân - người thợ nơi đây. Chính nhờ đó mà các sản phẩm của làng nghề đã đóng góp tích cực trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Cồn Phụng. Sự tồn tại và phát triển của làng nghề Cồn Phụng không những đã giải quyết được công ăn việc làm cho người dân trong vùng mà còn trở thành nguồn thu nhập trong các gia đình. Điều quan trọng là nó đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại đây.
Sản phẩm của làng nghề không những góp phần thể hiện rõ đặc trưng văn hóa riêng của một vùng đất, thể hiện bản sắc văn hóa, nếp sống vùng miền mà còn thể hiện những tâm tư, tình cảm, tâm huyết của người thợ - người nông dân trong cách họ tư duy về kỹ thuật và tư duy về thẩm mỹ. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy làng nghề thủ công nói chung và làng  nghề Cồn Phụng nói riêng không những có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa sâu sắc về văn hóa truyền thống của dân tộc.

CHÚ THÍCH:
1. Huỳnh Minh (soạn khảo): Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa:140.
2. Số liệu khảo sát điền dã tại làng nghề Cồn Phụng.
3. Báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Bến Tre tháng 4/2010.
4. http://www.baocongthuong.com.vn/p0c194n24983/xuat -khau-hang-vao-nhat-ban-mau-ma-san-pham-la -khauquan-trong.htm
5. Đinh Gia Khánh, 1989: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb. Khoa học xã hội:92- 93.
6. Số liệu khảo sát điền dã tại làng nghề Cồn Phụng.
7.Tư liệu điền dã tại làng nghề Cồn Phụng.
8. Số liệu khảo sát điền dã tại làng nghề Cồn Phụng.
9. http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/News/80/5358/Chitiet.html
10. Phan Ngọc, 2004: Bản sắc văn hóa Việt Nam.Nxb.VHTT:130.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Bến Tre tháng 4/2010.
2. Huỳnh Minh (soạn khảo): Đời khổ hạnh ông Đạo Dừa.
3. Phan Ngọc, 2004: Bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb. VHTT HN.
4. Phạm Xuân Nam, 2005: Văn hóa vì phát triển. Nxb. KHXH HN.
5. http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/News/80/5358/Chitiet.html
11. Phạm Xuân Nam, 2005: Văn hóa vì phát triển, Nxb. KHXH: 31

Bài đăng trong: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Cây dừa Việt Nam - Giá trị và tiềm năng",
do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh in và phát hành tháng 8 năm 2014.

Các tin khác:
Kết quả nghiên cứu giống dừa Dứa
Dừa Sáp Cầu Kè, Trà Vinh - Đặc điểm và giá trị
Nghề trồng dừa ở Bến Tre trong văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh thái văn hóa
Cây dừa Bến Tre - Thực trạng và giải pháp
Tìm hiểu vai trò của cây dừa trong việc bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Cây dừa - Cây của cuộc sống - Cây dừa trước nguy cơ biến đổi khí hậu
Cây dừa trong ẩm thực của người dân Bến Tre
Ẩm thực dừa ở Bến Tre từ góc nhìn địa văn hóa
Cây dừa Việt Nam với ngành du lịch đương đại: Nhìn từ góc độ cộng đồng địa phương và khách du lịch
Mô hình vườn dừa du lịch ở Bến Tre
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Cơ sở SX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Kẹo dừa Thanhh Long
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 25.723.758
Online: 36
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun