Danh mục
VĂN BẢN MỚI
THƯƠNG HIỆU
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DN & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QTKD
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (ICC)
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TIN CÔNG NGHỆ
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Nghề trồng dừa ở Bến Tre trong văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh thái văn hóa
09-12-2014

Ngô Hoàng Đại Long - Nghiên cứu viên, Trung tâm Nghiên cứu Biển & Đảo – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; Uông Thị Cẩm Vân - Thuyết minh viên, Bảo tàng tỉnh Bến Tre; Nguyễn Bình Phương Thảo - Giảng viên, Trường Cao đẳng Đồng An, Bình Dương.

Nghề trồng dừa ở Bến Tre trong văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh thái văn hóa

Nghề trồng dừa ở Bến Tre đóng vai trò rất quan trọng đã tạo nên những nét rất riêng về văn hóa và kinh tế của tỉnh. Ở vùng đất Xứ Dừa - Bến Tre nói riêng cũng như tiểu vùng Phù Sa ngọt nói chung, lần đầu tiên công việc trồng dừa đã trở thành một nghề, đó là nghề trồng dừa. Chính nghề này đã tạo nên biết bao sinh kế cho người dân đồng thời cũng giúp cho chúng ta nhận ra được những sắc thái “văn minh miệt vườn” mang một đặc trưng rất riêng cho cộng đồng cư dân ở vùng đất này.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, người dân phải “tự cứu lấy mình” bằng cách đưa ra các sáng kiến (vốn kinh nghiệm dân gian) để thích ứng, giảm nhẹ những rủi ro có thể xảy đến cho bản thân, gia đình và cộng đồng trước khi có sự can thiệp, hỗ trợ từ bên ngoài.
Bài viết dưới đây của nhóm tác giả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn về các giá trị văn hoá ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh thái văn hoá vốn từ nghề trồng dừa mang lại cho địa phương.
Từ khóa: nghề trồng dừa, biến đổi khí hậu, Bến Tre, Xứ Dừa, sinh thái văn hóa
1. Đặc điểm địa lý và phân bố các vùng trồng dừa ở Bến Tre
Bến Tre là một tỉnh hạ nguồn sông Mê Kông, được hợp thành bởi ba cù lao lớn là An Hóa, Bảo và Minh. Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt, mà đầu nhọn nằm ở thượng nguồn các nhánh sông lớn, giống như nan quạt xòe rộng ra phía đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.315,01km2, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía tây và nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65km. Về ranh giới hành chính: Bến Tre có 09 đơn vị trực thuộc gồm thành phố Bến Tre, huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Tổng dân số tỉnh gần 1,3 triệu người (2012), với thành phần dân tộc: người Kinh chiếm đa số với 99,88%, người Hoa 0,11%, người Khmer 0,11% [UBND Bến Tre, 2013].
Xứ Dừa – Bến Tre với bốn bề đều có sông nước bao bọc, vùng đất này có một hệ thống đường thủy rất dày đặc bao gồm những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn sông Mê Kông và một hệ thống kênh, rạch chằng chịt đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao nên rất thuận tiện cho giao thông vận tải, thủy lợi cũng như nông nghiệp.
Sự tăng trưởng phát triển của cây dừa tùy thuộc vào 2 yếu tố khí hậu và đất đai. Nhìn chung, ở Bến Tre điều kiện nhiệt độ (19-270C), ẩm độ (70-85%), lượng mưa (1.000-2.300mm), ánh sáng (5-8 giờ ngày) và đặc biệt chính đặc tính đất thịt pha cát, thoát thủy tốt rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây dừa tại nơi đây [9].
Dừa là loại cây trồng lâu năm (cây công nghiệp) chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống cây trồng của Bến Tre. Cây dừa và hoạt động sản xuất, chế biến dừa đã tạo nên một diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội, sinh thái môi trường đặc biệt trên vùng đất hạ nguồn Mê Kông. Diện mạo ấy không ngừng biến đổi và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển xứ dừa Bến Tre.
Cả nước hiện có khoảng 200.000ha trồng dừa thì Bến Tre là tỉnh dẫn đầu trên cả hai mặt: diện tích và sản lượng được trồng tập trung thành vùng nguyên liệu lớn với hơn 58.440 ha (năm 2012), chiếm 31% đất nông nghiệp của tỉnh và chiếm 38,8% diện tích dừa của cả nước, trong số này có 87,5% diện tích là dừa lấy cơm dùng trong chế biến công nghiệp; số còn lại là dừa uống nước. Năng suất dừa Bến Tre thuộc vào nhóm cao nhất (9.703 trái ha năm). Sản lượng dừa hơn 469 triệu trái (năm 2012). Toàn tỉnh có 163.082 hộ trồng dừa, đa số hộ trồng dừa có diện tích đất ít (trong đó, 122.964 hộ trồng dưới 0,5ha, 31.652 hộ trồng từ 0,5 đến 1ha và 8.466 hộ trồng trên 1ha). (Nguồn: Báo cáo của UBND Bến Tre về Chương trình phát triển ngành dừa tỉnh Bến Tre đến năm 2020).
Bến Tre là những cụm cù lao, cồn và “đảo cửa sông” nằm cuối cùng của dòng Mê Kông nên nhận nhiều phù sa trước khi chảy ra biển Đông trong sự tương tác giữa biển và sông, nhờ đó cây dừa xanh tốt hơn, năng suất cao hơn các vùng khác. Ba huyện có diện tích dừa lớn ở Bến Tre là Giồng Trôm, Châu Thành và Mỏ Cày (khi chưa tách huyện, nay là Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc). Các vùng Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú tuy diện tích và sản lượng dừa không bằng các huyện còn lại trong tỉnh. Tuy nhiên, dừa vẫn phát triển tốt ở các vùng đất gò, đất thịt pha cát với độ mặn dưới 10‰, không bị ngập úng và nhiễm mặn liên tục.
2. Sinh thái văn hóa trong ứng xử của cư dân vùng hạ nguồn sông Mê Kông – vùng đất xứ dừa Bến Tre
Theo lý thuyết “sinh thái văn hóa1 (cultural ecology), trong quá trình sinh tồn của mình, con người của các xã hội có những hoạt động sinh tồn càng thô sơ thì xã hội đó càng phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, ngược lại với những xã hội có trình độ phát triển kỹ thuật cao. J.H. Steward người đưa ra lý thuyết này phân tích sự tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa, con người phải thích nghi để sinh tồn, trên bối cảnh sinh thái tự nhiên đó, con người phải trải nghiệm, sáng tạo văn hóa cũng như kỹ năng sinh sống của cộng đồng dựa trên tâm lý và bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Từ những thành tựu văn hóa có được qua quá trình thích nghi với môi trường sinh thái, con người đã hình thành nên những sắc thái văn hóa đặc trưng [Steward, 1995, 82].
Còn theo nghiên cứu về sự thích nghi của con người đối với môi trường tự nhiên và xã hội [Joralemon, 2010, tr.165]. Sự thích nghi của con người được đề cập đến ở đây bao gồm cả tiến trình sinh học và văn hóa cho phép một số lượng dân cư giới hạn tồn tại và tái tạo trong một phạm vi môi trường được định ra hoặc phải thay đổi môi trường sống.
Còn theo tác giả2 J.H. Steward, sinh thái văn hóa là cách thức mà quá trình biến đổi văn hóa tạo bởi sự thích nghi với môi trường, được tiếp cận qua 3 điểm sau:1) Tập hợp cách sử dụng hiệu quả phương pháp và công nghệ đối với môi trường để thu lợi từ đó. 2) Tìm hiểu các hình mẫu của hành vi/văn hóa của con người nhằm thích nghi, tồn tại với môi trường. 3) Xác định giá trị của các hình mẫu của hành vi ảnh hưởng ra sao đối với diện mạo của văn hóa. [Steward, 1995, tr.34]
Vì vậy, sinh thái văn hóa là quá trình tộc người thích ứng với môi trường tự nhiên xung quanh, cùng với môi trường xã hội. Sinh thái văn hóa của một tộc người còn là sự nhận thức về thế giới quan, phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt, cấu trúc xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán... Cho nên, vùng đất Bến Tre có các giồng đất cao ven biển, nhiều cù lao, các dải đất cao là nơi định cư lâu dài cho lớp cộng đồng cư dân đầu tiên đến vùng đất này. Trong quá trình chung sống với tự nhiên, họ tận dụng được đất đai và thổ nhưỡng đặc biệt của khu vực này để tạo nên nghề trồng dừa mang sắc thái văn hóa riêng biệt. Họ tách dần với thói quen làm nông truyền thống của mình (trồng lúa) sang làm vườn do đất cao ráo thích hợp hơn với các loại cây ăn trái, trong đó dừa là một trong những cây tiên phong góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Trong quá trình đối phó với tự nhiên và tận dụng đất đã diễn ra sự thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi hành động và lối sống của người dân Bến Tre. Theo như nhận định của Trần Ngọc Thêm: “Ở Tây Nam bộ - lần đầu tiên vườn tách ra khỏi ruộng, được khai thác trên quy mô lớn, chủ yếu là phạm vi tiểu vùng phù sa ngọt (ứng với miệt vườn và miệt cù lao theo tên gọi dân gian). Lần đầu tiên xuất hiện một nghề riêng tách ra khỏi nghề nông - đó là nghề làm vườn, cùng với những kinh nghiệm, kỹ thuật và thành tựu riêng, tạo nên một cái mà Sơn Nam gọi là văn minh miệt vườn3“. [Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.393]
Lao động sản xuất” là một thuộc tính rất quan trọng, nó quyết định diện mạo của mỗi vùng văn hóa. Theo Alfred Kroeber thì vùng văn hóa có liên hệ mật thiết với vùng tự nhiên; vùng văn hóa là một khu vực địa lý xác định, được đặc trưng bởi sự tương đồng về phần lớn các đặc điểm văn hóa. Nhìn chung, vùng văn hóa thường được định nghĩa như như một khu vực địa lý mà trong đó các cộng đồng cư dân khác nhau có những đặc trưng văn hóa giống nhau, có cùng một kiểu phương thức hoạt động, hoặc cùng một định hướng văn hóa chủ đạo như nhau. Ví dụ: vùng văn hóa chăn nuôi Đông Phi, vùng văn hóa trồng ngô Trung Mỹ [Nguyễn Bá Thành, 2006, tr.381].
Ở Tây Nam Bộ, dân cư sống chủ yếu là nghề nông, đặc biệt là trồng lúa, sản xuất và chế biến các sản phẩm từ lúa gạo nên mang những sắc thái riêng gọi là “văn hóa lúa gạo”. Sau lúa gạo là loại sản phẩm hàng đầu đại diện cho Tây Nam bộ là sản phẩm trái cây gọi là “văn hóa trái cây”; trong hàng trăm loại trái cây thì tiêu biểu nhất là trái dừa [Trần Ngọc Thêm, 2013]. Loại quả này không chỉ là biểu tượng riêng cho tỉnh Bến Tre mà cho cả vùng Tây Nam Bộ và cả miền Nam.
Do hoàn cảnh sinh sống với một môi trường tự nhiên đặc biệt ở vùng hạ nguồn Mê Kông, người dân Bến Tre đã lấy nghề trồng dừa (làm vườn)4 và khai thác chế biến các sản phẩm từ cây dừa cùng với nghề khai thác chế biến các nguồn lợi trên sông nước làm hoạt động sinh sống chủ yếu. Bởi vậy, khi xem xét các hoạt động sản xuất mang tính đặc trưng này của cư dân sống trong rừng dừa - sông nước, chúng ta sẽ nhận diện bản sắc văn hóa5 cũng như một số sắc thái văn minh miệt vườn của họ thông qua hoạt động, lao động sản xuất.
3. Nghề trồng dừa ở Bến Tre, một sắc thái văn minh miệt vườn đặc biệt
Lưu dân Bến Tre bắt đầu công cuộc khai phá mảnh đất cù lao cửa biển vào khoảng thế kỷ 17, lúc đầu người ta chọn những vùng đất cao ráo (chủ yếu là đất gò hoặc giồng), có nguồn nước ngọt, khí hậu ít độc hơn vùng rừng rậm để sinh sống, khai phá cải tạo thiên nhiên được xem là bộ phận của cư dân tiểu vùng phù sa ngọt6.
Ban đầu, người Việt đến định cư ở đây đã không tránh khỏi việc hành động theo thói quen và kinh nghiệm truyền thống của nông dân Bắc Bộ và Trung Bộ là trồng lúa. Theo điều tra thực địa của Nguyễn Chí Bền: ”Các bô lão ở vùng Định Thủy (xứ Mỏ Cày, Bến Tre) còn nhớ rằng khoảng đầu thế kỷ XX, vùng này còn trồng lúa nước, việc chuyển thành vườn dừa mới chỉ diễn ra hơn 50 năm nay” [Nguyễn Bá Thành, 2006, tr.434]. Do điều kiện sinh hoạt thực tế đã giúp họ nhận ra rằng, vùng đất này có lắm sông, nhiều rạch và độ mặn dao động theo mùa nên việc lựa chọn cây dừa, một loại cây đặc biệt thích nghi với vùng lợ, là một lựa chọn rất phù hợp với môi trường nơi đây. Khác với cư dân trồng lúa hay đánh cá, nuôi trồng thủy sản, nông dân trồng dừa ở Bến Tre có một nền văn hóa sản xuất rất đặc trưng được thể hiện ở một số mặt sau đây:
- Lên liếp7trồng dừa là một giải pháp biến rừng hoang đất trũng thành một môi trường lý tưởng để trồng dừa. Việc lên liếp có tác dụng nâng cao tầng đất mặt, rửa phèn và nâng cao độ dày của tầng đất canh tác để tránh bị ngập úng trong mùa mưa.
Việc đào mương lên liếp trồng dừa có thể nói là một trong những lối ứng xử độc đáo của người dân Bến Tre với môi trường sống. Việc đào mương có nhiều tác dụng như: hạ thấp đất phèn, đưa nước ngọt vào tưới tiêu, bồi phù sa làm tăng màu mỡ cho đất, rửa phèn cho cho đất, giúp thoát nước tránh ngập úng... Họ đã tận dụng cách thức này để có môi trường thuận lợi cho cây dừa sinh sống và phát triển, thuận lợi cho tưới tiêu, thu hoạch và nuôi thủy sản song song với việc trồng dừa. Nhờ có hệ thống mương cộng với chế độ bán nhật triều của sông rạch xứ dừa người ta có thể lấy bùn đẫm nặng phù sa để vun đắp cho cây xanh tốt. Và cũng nhờ hệ thống mương mà người ta có thể “lùa” về bến một cách dễ dàng sau khi thu hoạch dừa.
Lịch sử của vùng đất Bến Tre đã gắn liền với các cuộc khai khẩn để hình thành nên rừng dừa như ngày hôm ngày. Buổi ban sơ, khi bắt tay trồng dừa các cư dân thuở xưa, có lẽ đã đo đạc tính toán kỹ lưỡng về cự ly, khoảng cách, tần xuất và mật độ rồi đánh dấu sau đó đắp những cái mô ở những vị trí đã định. Mô thường có đường kính khoảng 1m, khoảng cách giữa các mô khoảng từ 7- 8m là vừa đủ để dừa có thể phát triển tốt. Giữa các mô dừa vẫn có thể trồng màu, xen canh các cây ngắn ngày cho đến khi dừa trưởng thành (khoảng 3 -5 năm). Giữa các hàng dừa là các con mương thông ra kinh rạch phù sa theo đó mà bồi tụ vào các mương. Người ta lấy phù sa đắp lên mô dừa. Mô dừa mỗi năm mỗi cao mỗi rộng hơn cho dừa đủ đất phát triển [theo tư liệu tổng hợp từ website tỉnh].
Độ ba, bốn năm sau, khi dừa sắp ra lưỡi mèo (búp hoa), người ta đào các mương sâu xuống lấy đất đắp nối các mô lại theo hàng dọc đã định tạo thành bờ, tuy còn thấp nhưng đã thành hình dáng của một vườn dừa. Trên bờ đất, người ta tiếp tục trồng các loại cây ngắn ngày xen canh vào vuờn dừa như: đu đủ, ớt, cà, dưa leo... Phân, nước bón cho các loại hoa màu cũng chính là bón cho cây dừa.
Ngày nay, đi trong rừng dừa không ai có thể hình dung được cái buổi mới trồng dừa. Phải mất nhiều năm phù sa bồi tụ mới có thể biến ruộng thấp thành vườn dừa. Nhờ hệ thống kênh mương mà phù sa có thể vào tận mọi ngõ ngách của vườn. Trước lúc nước ròng có một khoảng thời gian nước đứng, đây là lúc phù sa lắng lại trước khi nước rút ra để chuẩn bị cho một chu kỳ mới. Khi con nước lớn, bao rác rưởi, sâu bọ sẽ bị cuốn đi và nước ngọt rửa phèn mặn làm cho vườn dừa mỗi ngày một xanh tốt. Vì vậy, diện tích dừa ở Bến Tre mỗi năm tăng dần và nơi đây được gọi là “Xứ Dừa” bởi có diện tích và sản lượng dừa cao nhất nước. Và trái dừa đã trở thành đặc sản điển hình và là niềm tự hào của người dân Bến Tre.
4. Nghề trồng dừa ở Bến Tre trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay
4.1. Diễn biến thời tiết thất thường 
Từ “sự thích nghi với môi trường” do ”cách thức mà quá trình biến đổi văn hoá” do con người tạo ra như cách tiếp cận về sinh thái văn hoá của nhóm tác giả, chúng ta sẽ tìm hiểu lý do tại sao thực trạng về biến đổi khí hậu hiện nay ở hạ nguồn sông Mê Kông - vùng đất Bến Tre này lại đáng lo ngại. Có thể nói, trong hàng nghìn năm qua loài người sinh sống khá cân bằng với môi trường tự nhiên, họ khám phá, khai phá và khai thác tự nhiên trong khả năng tái tạo của tự nhiên. Nhưng chỉ trong khoảng 2-3 thế kỷ trở lại đây vấn đề môi trường bỗng trở nên nguy hiểm rõ rệt do sự tàn phá quá mức của con người. Đặc biệt, chưa bao giờ thế giới mà chúng ta đang sống lại thay đổi nhanh như trong những thập niên gần đây, nguyên nhân chủ yếu là do tác động từ phát triển của công nghệ, gia tăng dân số và ý thức của con người (hay nói khác đi đó chính là “nhân tai”) tác động không nhỏ đến sự thay đổi quá nhanh của quá trình biến đổi khí hậu, con người đã lệ thuộc vào công nghệ (phá hủy môi trường sống do chính cha ông tạo nên).
Cùng với những tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu do sự phá vỡ cân bằng tự nhiên được thể hiện qua sự bất thường. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong thời gian này, các đợt nắng nóng kéo dài thường diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4, trong đó tháng 3, 4 là tháng có nhiệt độ rất cao vào ban ngày, hạn mặn lên đến đỉnh điểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của người dân trong tỉnh nhất là các huyện gần biển.
Ngoài đợt hạn kéo dài trong mùa khô, địa phương còn chịu hạn bà chằn8. Đây là đợt hạn xảy ra trong mùa mưa, thường xuất hiện vào tháng 8 hàng năm, khi gió mùa Đông Nam lấn tới đẩy lùi gió Tây mang hơi nước gây ra các đợt hạn liên tục, mỗi đợt kéo dài từ 5 đến 7 ngày, có khi đến 15 ngày. Hạn bà chằn có thể làm nước sông cạn kiệt, gây tình trạng thiếu nước tưới tiêu, làm giảm năng suất cây trồng. Hiện tượng mưa trái mùa thường xuất hiện vào tháng 1 hoặc tháng 4 hàng năm. Đây là thời điểm các cây trồng còn khá non nớt hoặc sắp đến thời điểm thu hoạch, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất của các hộ dân ở đây, nhất là các hộ trồng dừa.
Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, trong khoảng thời gian này, áp thấp nhiệt đới, bão thường xuất hiện vào các tháng 8, 9, 10 và 11, gây mưa to. Triều cường diễn ra từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau làm ngập úng cục bộ một số nơi. Tình trạng sạt lở đất diễn ra thường xuyên, nhất là vùng cửa sông và ven biển từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm. Lốc xoáy xảy ra vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Tất cả các hiện tượng thời tiết cực đoan này kết hợp với gió chướng thổi mạnh hàng năm gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt nơi đây.
Với những gì đang xảy ra, sẽ không còn có một “hình mẫu của văn hóa” nào của con người phù hợp với một môi trường tự nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Cho nên, vốn tri trức bản địa là “cách thức mà quá trình biến đổi văn hóa sẽ phù hợp với môi trường thiên nhiên” có thể giúp cho con người thích nghi tốt hơn với môi trường đúng nghĩa, hơn là một môi trường nhân tạo. Đó là một quá trình tương hỗ, có nghĩa là môi trường tác động đến đời sống của con người nhưng ngược lại con người cũng có tác động rất lớn đến môi trường thông qua một môi trường trung gian mà nhóm tác giả gọi đó là sinh thái văn hoá trong ứng xử với thiên nhiên.
Cộng đồng nơi đây với các tri thức bản địa vốn có của mình đã tạo nên các giải pháp hữu hiệu, mang tính bền vững như: đào ao trữ nước mưa tưới vườn; trữ nước trong lu để sinh hoạt; trồng dừa trên các giồng cát; tối ưu hoá mô hình VAC (vườn, ao, chuồng), trồng mắm, bần, trồng dừa nước để chống xói lở,… Đặc biệt, bóng dáng cây dừa luôn xuất hiện ở các mô hình này với các tần suất khác nhau như: có khi thì các nông hộ trồng dừa xem như sinh kế chính hoặc đôi khi chỉ để giữ bờ đê, ngăn mặn xâm nhập, giữ đất, bao bờ, che mát... Việc trồng cây dừa ngăn mặn chống xói mòn các vùng mặn, lợ đã cho thấy văn hóa ứng xử của người dân nơi đây với môi trường tự nhiên một cách hiệu quả, thể hiện được rõ nét tính chất dùng tự nhiên để khắc chế tự nhiên. Đây là những cách thức thể hiện sự ứng xử thân thiện với môi trường, có ý thức tôn trọng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
4.2. Phân tích một số mô hình sinh kế nông hộ chủ yếu9
Trong giai đoạn từ năm 2011 - 2013, nhóm tác giả đã tham gia nghiên cứu khảo sát 59/164 xã của tỉnh Bến Tre, chủ yếu tại các huyện vùng tiếp giáp với biển (vùng nước lợ và nước mặn) tuy diện tích và sản lượng cây dừa không phải là thế mạnh nơi đây nhưng đa số các hộ có sự chuyển đổi sang trồng dừa rất lớn do sự thích nghi về khí hậu, đất đai và thuỷ văn cũng như chi phí đầu tư ổn định lâu dài hơn các loại cây trồng và vật nuôi khác.
Dựa trên các tiêu chí, sử dụng số liệu thu thập thông tin về thu nhập và chi tiêu từ các mô hình sinh kế trong các năm qua. Thông qua phân tích dựa vào giá trị thu nhập ròng của hộ gia đình và kết hợp với các tiêu chí phát triển bền vững về môi trường như thích nghi cao với BĐKH vùng ven biển để đánh giá mức độ bền vững và hiệu quả của một số mô hình sau:
* Mô hình rừng xen tôm/cua (MHSK 5c): trồng rừng kết hợp nuôi xen tôm/cua là mô hình khá hay, mang lại thu nhập ổn định, rủi ro ít và thân thiện với môi trường. Mô hình phát triển thủy sản bền vững, nuôi thủy sản kết hợp trồng rừng. Trong bối cảnh nguồn nước ngày càng ô nhiễm khiến cho việc nuôi trồng thủy sản gặp nhiều bất lợi, việc nuôi trồng thủy sản bền vững, thân thiện với môi trường là mục tiêu cần phát triển và hướng tới trong tương lai. Bên cạnh các loài thủy sản được thả nuôi trong các ao đầm, tôm sú, cua cũng được thả vào môi trường tự nhiên quanh các khu nuôi trồng thủy sản của người dân. Rừng ngập mặn được trồng và bảo vệ góp phần chống sạt lở, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường cho một vùng rộng lớn, đồng thời là nơi trú ngụ và phát triển của các loài thủy, hải sản.
* Mô hình trồng hoa màu trên đất giồng cát (MHSK 2): quanh năm cho thu nhập ổn định, thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn không còn là nỗi lo của người dân. Bởi vùng đất giồng cao ít bị ảnh hưởng, lựa chọn giống hoa màu tốt sẽ mang lại hiệu quả cao. Mô hình luân canh xen vụ trong canh tác nông nghiệp nên được khuyến khích nhân rộng bởi tính ưu việt của mô hình này là cải tạo đất, tránh tình trạng lây lan dịch bệnh trên cây trồng, đặc biệt là sinh kế trồng màu của bà con các xã ven biển của tỉnh. Ví dụ: trồng dưa phủ bạt góp phần tiết kiệm được nguồn nước tưới, mặt khác hạn chế được cỏ dại, tránh xói mòn đất và giúp ngăn ngừa sâu rầy. Mô hình trồng dưa hấu phủ bạt được các nông hộ ưa chuộng bởi tính hiệu quả kinh tế và phù hợp với vùng đất địa phương.
* Mô hình chăn nuôi kết hợp trồng dừa (MHSK 4): là phương thức đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập cho người dân ven biển mà tận dụng cơ sở vật chất vốn có tại từng gia đình và áp dụng những cách sản xuất mới như cải tạo vườn tạp thành vườn cây đặc chủng (trồng dừa), xen cỏ voi, trên bờ nuôi bò, dê và dưới ao nuôi cá (trê, cá trám cỏ...). Đây thực chất là mô hình vườn - ao - chuồng (VAC), mô hình này tuy không mới nhưng là mô hình thể hiện được tính ưu việt của một tiểu sinh thái tự cung tự cấp, rất thích hợp trong tình hình thực tiễn hiện nay. Tính ưu việt của mô hình này là khả năng chống chịu và phục hồi nhanh trong bối cảnh BĐKH, dễ dàng áp dụng ở cấp hộ gia đình, đem lại hiệu quả tác động trực tiếp đến đời sống người dân.
Hơn nữa, việc áp dụng mô hình trên không khó, sử dụng kinh nghiệm dân gian/tri thức bản địa là chủ yếu trong việc ứng xử với môi trường thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mô hình có tính linh hoạt cao thông qua việc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với BĐKH. Có thể nói VAC là một mô hình sinh kế bền vững, đảm bảo được yếu tố thân thiện với môi trường và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, có khả năng nhân rộng ở mọi vùng.  
Từ đó, nhận thấy các mô hình sinh kế của người dân tại đây thực chất là các mô hình sản xuất, kinh doanh hộ gia đình mà người dân dành nhiều thời gian nhất trong một năm để tạo ra thu nhập. Trong đó, các mô hình được đánh giá là mang lại hiệu quả nhất (đánh giá Tốt) luôn có sự kết hợp giữa 3 thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Các mô hình này tạo ra lợi nhuận, hướng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng thân thiện với môi trường, nếu 3 yếu tố này đạt trạng thái cân bằng sẽ thỏa mãn tính bền vững. Mỗi vùng của Bến Tre có những mô hình tối ưu phù hợp cho từng địa phương.
Tuy nhiên, theo nhận định của nhóm tác giả nghiên cứu tại Bến Tre thì “mô hình trồng dừa kết hợp vật nuôi” (MHSK 4) được đánh giá là khá phù hợp với các hộ dân và đặc tính văn hóa của cư dân bản địa tại nơi đây. Bởi sự thích ứng khá nhanh chóng của cây dừa trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi diện tích nước mặn từ biển hàng năm cứ lấn sâu vào trong đất liền, một số vùng bị “phơi nhiễm” mặn rất lớn, kết hợp nhiệt độ tăng cao trong nhiều năm qua nhưng cây dừa vẫn tăng cả về diện tích lẫn sản lượng.
5. Đánh giá mô hình trồng dừa kết hợp (MHSK4) trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trong các mô hình sinh kế tại địa phương đang được áp dụng đều góp phần giải quyết tốt các vấn đề về môi trường, sinh thái cảnh quan và đảm bảo nguồn không khí, nguồn nước trong lành tại địa phương. Điều dễ dàng nhận thấy là trong 05 năm gần đây diện tích vườn dừa được tái sinh và rừng dừa đã dần phủ xanh trên các cù lao, cồn của địa bàn. Do đó có thể thấy, nghề trồng dừa là một hình thức canh tác mang giá trị kinh tế xanh, góp phần sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai một cách hiệu quả.
Nhờ đa dạng hóa các mô hình sinh kế, trong đó mô hình từ nghề trồng dừa đã đóng góp một phần đáng kể vào vào các vấn đề văn hóa xã hội. Hiệu quả rõ nhất là giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, vừa tạo điều kiện tăng thu nhập cho nông hộ, chi phí đầu tư ban đầu không tốn nhiều... Cuộc sống của nông thôn đi vào ổn định, tỷ lệ các hộ nghèo giảm đi rõ rệt, chênh lệch giàu nghèo cũng được rút ngắn trên địa bàn. Từ đó, có thể rút ra một số nhận định từ mô hình như sau:
Xét về diện tích: mô hình MHSK4 không cần có diện tích lớn từ 2 công đất trở thì có thể phát huy tính hiệu quả của mô hình. Trong khi bốn mô hình còn lại có thể áp dụng với qui mô đất đai rất lớn.
Xét về vị trí phân bố: mô hình MHSK4 thường phân bố nơi có địa hình đất gò, thịt pha cát, dọc các con sông, nơi bằng phẳng, chịu được lợ và mặn trong khi các mô hình còn lại thì phân bố chủ yếu tại đất cồn, rừng ngập mặn.
Xét về nguồn nhân lực: mô hình MHSK4 không đòi hỏi nhiều nhân công, các hộ tham gia có thể tự thực hiện, không yêu cầu nhiều về mặt kỹ thuật, số lượng lao động thường xuyên không nhiều và không cần thu hút số lượng nhân công lớn vào các mùa vụ. Trong khi bốn mô hình còn lại không đòi hỏi nhiều lao động thường xuyên, có thể thuê mướn theo mùa.
Xét về nguồn vốn đầu tư: mô hình MHSK4 không cần nguồn vốn đầu tư lớn so với các mô hình còn lại. Ngoài ra, mô hình này rất thích ứng trong bối cảnh biến đổi khi chiều hướng nước mặn tăng cao.
Xét về mức độ rủi ro: MHSK4 là mô hình được đánh giá là có mức độ rủi ro thấp nhất bởi do tính chủ động cao của nông hộ và phương thức canh tác liên hoàn, hỗ trợ cho nhau giữa ao, vườn dừa, chuồng trại và trồng màu kết hợp. Chăn nuôi cung cấp phân bón cho vườn dừa. Vườn dừa vừa cho sản phẩm thu lại lợi nhuận kinh tế cao vừa góp phần giữ đất, giữ nước cho mô hình đồng thời có thể trồng xen canh các cây trồng ngắn ngày.
Mô hình trồng dừa kết hợp (MHSK 4) là một mô hình mang tính kinh tế sinh thái xanh, khá bền vững, giúp người dân tự hoàn thiện tập quán canh tác, phù hợp với đặc điển tự nhiên, thời tiết khí hậu, sông ngòi và đất đai ở địa phương, từng bước nâng cao năng suất và sản lượng. Vì vậy, có thể đưa kinh tế dừa từ tính chất hộ gia đình sang hình thức hợp tác xã, trang trại theo mô hình nông nghiệp sinh thái chất lượng cao.
6. Kết luận và đề xuất
Trong xu thế hội nhập hiện nay, nhất là sau khi nước ta đã gia nhập WTO, Bến Tre có nhiều điều kiện phát huy lợi thế xuất khẩu các sản phẩm từ dừa, giúp hàng ngàn hộ dân ổn định cuộc sống, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, trong bối cảnh BĐKH như hiện nay Tỉnh nên chú trọng đến công tác thủy lợi, khuyến nông, bảo vệ thực vật… cùng với những chương trình khuyến khích trồng dừa, ban hành chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ dừa. Đặc biệt, phải xem xét nâng cao thế mạnh đặc thù của tỉnh hơn nữa, đó là kinh tế dừa. Thiết nghĩ, trong thời gian sắp tới tỉnh Bến Tre nên có một số chính sách để quản lý, khai thác và phát huy hơn nữa các giá trị văn hóa từ cộng đồng cư dân sinh sống gắn liền với cây dừa từ hơn 300 năm nay như sau:
- Quy hoạch và xây dựng “Không gian sinh thái văn hóa Xứ Dừa thành một điểm đến du lịch - một sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh, một nơi tổ chức Festival mang tầm vóc quốc tế bao gồm các hoạt động như: cuộc thi “Người đẹp Xứ Dừa”, “liên hoan ẩm thực Xứ Dừa”, liên kết các tour du lịch sinh thái gắn kết với cộng đồng, triển lãm trưng bày tôn vinh những cá nhân trong hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với cây dừa. Đặc biệt là nghệ nhân, người thợ, người nông dân đã gắn bó hết mình cho cây dừa, giúp cho các thế hệ hiểu và phát huy các giá trị từ cây dừa mang lại. Đó là một nơi có sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, con người và các giá trị văn hóa từ cây dừa mang lại.
- Xác định cây dừa là cây chiến lược công - nông nghiệp của tỉnh cũng như của quốc gia nói riêng. Từ đó, người trồng dừa sẽ thấy được ý nghĩa và lợi ích thật sự, góp phần tăng chuỗi giá trị cây dừa của địa phương nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay. Đặc biệt, tỉnh nên tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng dừa, diện tích đất trồng dừa ngày càng mở rộng.
- Phát huy hơn nữa vai trò liên kết “tứ trụ - liên kết 04 nhà” của hội, nhóm và các tổ chức trong và ngoài nước về cây dừa. Có như vậy, người trồng dừa (nhà nông) và các nhà doanh nghiệp cũng như Nhà nước và các nhà khoa học liên kết phát huy tối đa các giá trị do cây dừa mang lại. Đặc biệt, đối với người trồng dừa phải xem đó là một nghề, nên có chính sách hỗ trợ cây giống cho nông dân, để nghề trồng dừa thật sự mang lại một ý nghĩa về kinh tế, văn hoá và sinh thái cho cộng đồng cư dân Xứ Dừa – Bến Tre.

CHÚ THÍCH:
1.Theo GS Trần Ngọc Thêm : “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực ti ễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Nguồn: (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo d ục:10).
2. Lý thuyết Sinh thái văn hoá được nhà nhân học người Mỹ Julian Haynes Steward (1902-1972) khởi xướng và đề cập đến trong cuốn sách nổi tiếng của ông xuất bản năm 1955 -   Lý thuyết về biến đổi văn hóa: Phương pháp luận tiến hóa đa tuyến (Theory of Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution).
3. Văn minh miệt vườn là khái niệm được nhà khảo cứu Sơn Nam sử dụng... ông viết: “Miệt vườn là xưng danh sẵn có”. Văn minh là nếp sống vật chất, là ăn, mặc, ở và cách thức sanh nhai. Trong hoàn cảnh địa lý và lịch sử đặc biệt, dân việt đã sáng tạo một nếp sống hùng mạnh, phóng khoáng... Lẽ dĩ nhiên, nếu người Tây Ban Nha, người Nhựt, người Lào, người Kh‘mer gặp hoàn cảnh lịch sử, địa lý tương tự thì họ có phản ứng khác, cất nhà, cấy cày theo hình thức khác. Vì họ không nằm trong nền văn minh Việt Nam. Văn minh chỉ ra trình độ phát triển của một vùng. Bởi vậy mà văn minh miệt vườn “tiêu biểu cho hình thức sanh hoạt vật chất và tinh thần cao nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long” [tr.544].
4. Nghề làm vườn xuất phát từ từ ghép của tiếng La Tinh: Hortus-vườn và Cultus-canh tác= Horticulture. Nghề làm vườn là công nghiệp và nghiên cứu về cây ăn quả, rau, hoa và cây cảnh. [www.vacvina.org.vn]
5. Theo quan điểm của chúng tôi, bản sắc văn hóa là một bộ phận, một thuộc tính của văn hóa. Nếu hình dung văn hóa là cái chung, thì bản sắc là một bộ phận, một phần quan trọng, cốt lõi trong đó [Nguyễn Bá Thành, Bản Sắc Việt Nam qua giao lưu văn hóa, Nxb. Quốc gia Hà Nội, tr.40].
6. Khu vực có độ cao trung bình do phù sa bồi đắp quanh sông Tiền-sông Hậu với nước ngọt chiếm ưu thế có thể gọi là Tiểu vùng Phù sa ngọt. Tiểu vùng này gồm trọn “miệt phù sa” và phần lớn “miệt cù lao theo cách gọi dân gian” [tr.104].
Một số khái niệm liên quan:
6.1. Từ “miệt” theo phương ngữ Nam bộ có hai nghĩa: (1) “phía, hướng, một vị trí nào đó đang đề cập tới; (2) miền, vùng, một nơi nào đó ở vùng nông thôn [Huỳnh Công Tín 2009:870].
6.2. Miệt vườn là vùng đất phù sa màu mỡ ở khu vực sông Tiền-sông Hậu, nơi quanh năm có nươc ngọt.
6.3. Miệt cù lao là khu vực có các cù lao nổi lên giữa các sông Tiền và sông Hậu, trải dài từ biên giới xuống đến cửa biển.
6.4. Miệt giồng là khu vực phía động, nơi có những dòng các chạy dài theo ven biển Long an đến tận Sóc Trăng.
6.5. Miệt Kinh là khu vực phía bắc sông Tiền thuộc Đồng Tháp Mười, nơi có mật độ kinh dày hơn hẳn các nơi khác để tháo chua, để làm thủy lộ, cũng là nơi mà các khu dân cư hầu như đều được thiết lập dọc theo con kênh này.
6.6. Miệt U Minh là vùng rừng sác ngập mặn trên bán đảo Cà Mau.
6.7. Miệt thứ là khu vực có mười con kinh đào chạy song song ra biển (nằm ở hai huyện An Biên và An Minh thuộc tỉnh Kiên Giang) được đặt tên theo số thứ tự (Thứ nhứt, thứ Nhì...Thứ Mười Một). [101- 102].
7. Sơn Nam viết rằng “liếp còn gọi là bờ”. Song đúng ra thì “liếp” chính là “luống” [tr. 435].
8. Hạn bà chằn (còn gọi là hạn lệ, hạn bông tranh) là cách gọi dân gian của các đợt khô hạn ngắn xảy ra vào mùa mưa ở miền Tây Nam Bộ.
9. Mô hình sinh kế chủ yếu trong một năm là các mô hình sản xuất, kinh doanh hộ gia đình mà người dân dành nhiều thời gian nhất trong một năm để tạo ra thu nhập (theo định nghĩa của nhóm tác giả).
10. Đánh giá xếp hạng theo 5 tiêu chí: 1. Tính cấp thiết, 2. Tính ổn định, 3. Tính lồng ghép, 4.Tính khả thi (chi phí), 5. Tính bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Joralemon, David, 2010: Exploring Medical Anthropology, Upper Saddle River. NJ: Prentice Hall.
2. Nguyễn Bá Thành, 2006: Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nxb.Quốc gia Hà nội.
3. Quyết định số: 2300/QĐ-UBND tỉnh Bến Tre về Chương trình phát triển ngành dừa tỉnh Bến Tre đến năm 2020
4. Trần Ngọc Thêm, 2013: Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ”, Nxb. VHNT. 113
5. Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, 2013: “Ứng phó với tình hình xâm nhập mặn và ngập lũ của cộng đồng dân cư tại ba huyện ven biển tỉnh Bến Tre – Thực trạng và giải pháp”, Mã số: B2011-18b -11, ĐHQG-HCM.
6. Steward, Julian, 1955: Theory of Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution, Urbana: University of Illinois Press.
7. http://www.imh.ac.vn/b_tintuc_sukien/dc_hoinghi_hoithao/L555-thumuccuoi/mlfolder.2007-04-13.0236405440/40%20Thi%20305.pdf, truy cập ngày 01/7/2014, bài viết “Một số mô hình kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu tại Bến Tre và Ninh Thuận”.
8. http://www.bentre.gov.vn/content/section/6/46/, truy cập ngày 01/7/2014.
9. http://hiephoiduabentre.com.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=3839, truy cập ngày 02/7/2014, bài viết “Đặc điểm sinh học cây dừa Bến Tre”.
10. http://hiephoiduavietnam.org/tin-tuc/6/39/453/nghe-trong-dua-o-ben-tre---mot-sac-thaivan-minh-nong-nghiep-dac-biet.html, truy cập ngày 03/7/2014, bài viết “Một sắc thái văn minh nông nghiệp đặc biệt”.

Bài đăng trong: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Cây dừa Việt Nam - Giá trị và tiềm năng",
do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh in và phát hành tháng 8 năm 2014.

Các tin khác:
Cây dừa Bến Tre - Thực trạng và giải pháp
Tìm hiểu vai trò của cây dừa trong việc bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Cây dừa - Cây của cuộc sống - Cây dừa trước nguy cơ biến đổi khí hậu
Cây dừa trong ẩm thực của người dân Bến Tre
Ẩm thực dừa ở Bến Tre từ góc nhìn địa văn hóa
Cây dừa Việt Nam với ngành du lịch đương đại: Nhìn từ góc độ cộng đồng địa phương và khách du lịch
Mô hình vườn dừa du lịch ở Bến Tre
Cây dừa với phát triển du lịch văn hóa huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên
Cây dừa với việc khai thác sản vật địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ du lịch
Phát triển du lịch làng nghề ở Bến Tre
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Cơ sở SX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Kẹo dừa Thanhh Long
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 25.723.702
Online: 42
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun