Danh mục
VĂN BẢN MỚI
THƯƠNG HIỆU
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DN & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QTKD
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (ICC)
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TIN CÔNG NGHỆ
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Ẩm thực dừa ở Bến Tre từ góc nhìn địa văn hóa
05-12-2014

Lê Thị Ngọc Điệp - TS. Giảng viên Khoa Văn hoá học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

Ẩm thực dừa ở Bến Tre từ góc nhìn địa văn hóa

Dừa được trồng ở rất nhiều địa phương trên đất nước ta, nhưng nhắc đến xứ dừa ai cũng nghĩ ngay đến Bến Tre, nơi cây dừa đã trở thành biểu tượng đẹp, là linh hồn của vùng đất này - vùng đất mang đậm dấu ấn của văn minh sông nước với những rặng dừa bạt ngàn, xanh mướt, đổ bóng dài trên nhà cửa, ruộng vườn, trên các con kênh rạch, các con sông. Đối với Bến Tre, dừa không chỉ đơn giản là sản vật mà còn có giá trị quan trọng như một điều thiết yếu trong cuộc sống đối với người dân nơi đây. Dừa đã chiếm vị trí độc tôn trong mọi lĩnh vực của đời sống cư dân Bến Tre, đặc biệt trong ẩm thực, dừa đã tạo ra những món ăn thơm ngon, độc đáo mang những nét đặc trưng riêng của vùng văn hóa này.
Ẩm thực dừa của Bến Tre mang những đặc trưng riêng, độc đáo của những người một thời đi mở cõi – đó là bản sắc của khẩn hoang, phóng khoáng, không cầu kỳ, câu nệ. Ẩm thực dừa Bến Tre đã trở thành nét văn hóa, lối sống của cư dân vùng đất này, góp phần làm nên bản sắc văn hóa ẩm thực Việt Nam.
Từ khóa: ẩm thực, ẩm thực dừa, Bến Tre, địa văn hóa
1. Mở đầu
Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông mía trắng nhớ quê Mỏ Cày1
Hình ảnh cây dừa đã gắn bó với đời sống con người Việt Nam từ rất lâu đời, dừa đã ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam, đóng góp một phần quan trọng trong quá trình hình thành văn hóa dân tộc. Dừa được trồng ở rất nhiều địa phương trên đất nước ta, nhưng nhắc đến xứ dừa ai cũng nghĩ ngay đến Bến Tre, nơi cây dừa đã trở thành biểu tượng đẹp, là linh hồn của vùng đất này - vùng đất mang đậm dấu ấn của văn minh sông nước với những rặng dừa bạt ngàn, xanh mướt, đổ bóng dài trên nhà cửa, ruộng vườn, trên các con kênh rạch, các con sông. Đối với Bến Tre, dừa không chỉ đơn giản là sản vật mà còn có giá trị quan trọng như một điều thiết yếu trong cuộc sống đối với người dân nơi đây. Dừa đã chiếm vị trí độc tôn trong mọi lĩnh vực của đời sống cư dân Bến Tre, đặc biệt trong ẩm thực, dừa đã tạo ra những món ăn thơm ngon, độc đáo mang những nét đặc trưng riêng của vùng văn hóa này.
Ẩm thực đối với con người từ xưa đến nay là nhu cầu thiết yếu, là một phần quan trọng trong cuộc sống. Đặc biệt đối với Việt Nam, một nền văn hoá gốc nông nghiệp thì ẩm thực càng có vai trò quan trọng, như ông bà ta từng nói “có thực mới vực được đạo”.
Ẩm thực không chỉ đơn thuần là cung cấp dinh dưỡng để duy trì cuộc sống mà còn đáp ứng nhu cầu về tinh thần, về giao tiếp và ứng xử. Nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét “Món ăn là một nội dung quan trọng góp phần tạo nên phong vị dân tộc, phong vị quê hương và có tác động không nhỏ vào tâm tư tình cảm, vào cách ứng xử của mỗi tập đoàn người…2. Nghiên cứu theo hướng tiếp cận này, chúng ta có thể thấy được dấu ấn văn hóa của con người, các sắc thái văn hóa đa dạng của các vùng miền, quy luật hình thành và biến đổi của văn hóa trong các môi trường không gian địa lý nhất định.
Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, theo hướng tiếp cận địa văn hóa chúng tôi hướng đến mục đích: (1) nghiên cứu ẩm thực dừa của tiểu vùng văn hóa Bến Tre trong quan hệ với môi trường tự nhiên; (2) xem điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tố hình thành nên những đặc điểm cơ bản của văn hóa ẩm thực dừa ở Bến Tre.
2. Nghiên cứu ẩm thực tiếp cận từ địa văn hóa
2.1. Ẩm thực, văn hóa ẩm thực
Theo Từ điển Hán Việt thông dụng3 thì ẩm thực chính là ăn uống, ẩm thực là danh từ ghép, gốc Hán, với nghĩa ẩm: là uống; thực: là ăn. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, ăn cũng là từ dùng để chỉ hành vi nạp năng lượng nhằm duy trì sự sống và tăng trưởng của động vật nói chung trong đó có con người 4.
Ăn uống là nhu cầu tự nhiên hằng ngày của con người. Ngay từ thời kỳ sơ khai, con người đã biết tìm thức ăn cung cấp năng lượng cho cơ thể từ môi trường tự nhiên bằng hình thức săn bắt hái lượm. Vào thời điểm này, ăn uống chỉ là một hoạt động sinh học, ăn sống, uống sống, ăn theo bản năng để duy trì sự sống và bảo tồn nòi giống.
Cùng với sự tiến hóa của loài người, việc tìm ra lửa và sự chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn chín đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đời sống con người. Sự chuyển đổi này đã làm con người tiến hóa với nhịp điệu cao hơn trước, làm con người thay đổi về tâm sinh lý, nhận thức, hành động có ý thức hơn.
Ẩm thực ngoài việc đáp ứng nhu cầu sinh học của con người, còn là tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống, thể hiện chức năng xã hội quan trọng - phương tiện giao tiếp xã hội giữa con người với nhau (trong cả hiện tại và đời sống tâm linh), có ảnh hưởng đến tình cảm, thái độ ứng xử của con người.
Đời sống con người càng được nâng cao, thì nhu cầu ăn uống cũng đòi hỏi phải đạt mức độ cao hơn nữa. Ăn uống không chỉ để no mà còn để thưởng thức cái ngon, cái đẹp, và còn những tác dụng khác như chữa bệnh, làm đẹp. Để đáp ứng được những tiêu chí đó, việc nấu ăn đã được nâng tầm lên thành một bộ môn nghệ thuật với tính thẩm mỹ cao và đã tạo nên đặc trưng riêng, bản sắc riêng của một nền văn hóa, như Nguyễn Tuân đã nhận xét “ẩm thực là đỉnh cao của một dạng văn hóa dân tộc”.
Nghệ thuật ẩm thực còn là bức tranh phản ánh thiên nhiên, đất nước, cũng như tâm hồn dân tộc, tâm tính, tình cảm con người. Sự thể hiện của văn hóa trong ăn uống cũng chính là sự thể hiện bản chất của con người, bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia. Qua ẩm thực có thể phản ánh điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử, trình độ nhận thức, đặc trưng văn hóa của một dân tộc, một quốc gia. Sự hình thành phong cách, thói quen ăn uống của một vùng miền, một dân tộc là kết quả từ một nền văn hóa ra đời trong bối cảnh và lối sống riêng của những cư dân sinh sống tại vùng đất đó.
Như vậy, văn hóa ẩm thực là những giá trị do con người sáng tạo và tích lũy qua hoạt động ăn uống của những cộng đồng cư dân, địa phương khác nhau trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa ẩm thực chính là bức tranh phản ảnh một cách trung thực nhất về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương hay cộng đồng dân cư đó.
2.2. Nghiên cứu từ hướng tiếp cận địa văn hóa
Nghiên cứu mối quan hệ giữa địa lý và văn hóa đã manh nha từ thời kỳ cổ đại. Các nhà nghiên cứu như Hippocrates (5 TCN) và Herodotus (490 TCN) đã nhận định “sự khác nhau về vùng đất tạo ra sự khác nhau về con người” 5. Tiếp cận từ góc độ địa lý các nhà khoa học này đã giải thích chính sự khác biệt của vùng khí hậu nóng và lạnh đã làm cho xã hội Hy Lạp phát triển sớm hơn so với các xã hội khác tại cùng một thời điểm. Aristotle cũng đã đưa ra hệ thống phân loại khí hậu của mình để giải thích lý do tại sao con người gặp khó khăn khi giải quyết một số vấn đề trong xã hội ở những khu vực trên thế giới. Các nhà nghiên cứu thời kỳ này cho rằng “miền đất bao gồm: thời tiết, khí hậu, các hình thái đất và thực vật… chi phối con người phát triển trong một thời gian dài” 6. Quan điểm này được gọi chung là quyết định luận địa lý (Geographical Determinism) hay quyết định luận môi trường (Enviromental Determinism).
Quan điểm của các nhà quyết định luận môi trường ở thời kỳ cổ đại cho đến thế kỷ XIX đều cho rằng yếu tố tự nhiên là nhân tố quan trọng, chi phối tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống con người. Đến thế kỷ XX, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, thuyết  “Địa - văn hóa mới” ra đời thay thế cho thuyết  “Quyết định luận môi trường”, nhấn mạnh đến sự tương tác giữa các cảnh quan tự nhiên và con người; và chính sự tương tác đó đã tạo ra những cảnh quan văn hóa. Quan điểm mới đề cao vai trò của con người; tự nhiên không còn được coi là yếu tố duy nhất có tính quyết định và chi phối một chiều; con người có khả năng tác động trở lại môi trường hoặc lựa chọn môi trường thích nghi.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường và văn hóa, nhà nghiên cứu Đào Duy Anh nhận định “cách sinh hoạt của con người, tức là văn hóa có quan hệ rất mật thiết với điều kiện tự nhiên, cho nên nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, ta phải nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của dân tộc ấy trước” 7. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm “văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội8. Trần Quốc Vượng cho rằng “thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn hóa Việt Nam. Văn hóa là sự thích nghi và biến đổi tự nhiên. Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố. Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đốcủa tự nhiên” 9. Chính sự tác động của tự nhiên làm cho con người đã tìm cách thích nghi và ứng phó với nó, đặc biệt là trong lĩnh vực ẩm thực.
3. Đặc điểm môi trường tự nhiên Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành thuộc vùng văn hóa Tây Nam Bộ, là vùng đất được hợp thành từ ba cù lao (Bảo, Minh, An Hóa). Vùng đất này được phù sa của bốn nhánh sông lớn
của sông Cửu Long bồi đắp (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên). Bên cạnh đất đai phì nhiêu, Bến Tre cũng có hệ thống kênh rạch chằng chịt. Ngoài việc phục vụ nhu cầu đi lại, chuyên chở hàng hóa phục vụ đời sống con người, kênh rạch cũng cung cấp cho con người các loại thủy hải sản phong phú.
Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhiệt độ quanh năm ít thay đổi. Với vị trí nằm ở hạ lưu sông Mekong, là vùng đất cửa sông giáp biển, vào mùa gió chướng nước biển thường xâm nhập vào đất liền làm cho một số vùng bị nhiễm mặn. Đất đai Bến Tre là một dạng cù lao lớn do phù sa bồi tụ thành những “đảo cửa sông”, một trong những hình thức lấn biển của đồng bằng sông Cửu Long. Quá trình đồng bằng lấn biển này đã hình thành nên những dải giồng cát ở Bến Tre – một dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long.
Theo kết quả điều tra khảo sát đất đai Bến Tre, toàn tỉnh Bến Tre được chia làm 4 nhóm đất chính là: nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất phèn và nhóm đất mặn. Trong đó hai loại đất thích hợp nhất cho cây dừa: đất giồng cát và đất giồng – ngay cả giồng mới nằm sát ven biển dừa cũng mọc được, nhờ có lớp cát dày, rửa lạt cao và hoàn toàn sạch phèn.10
Do vị trí, điều kiện địa lí của vùng đất - là vùng ven biển, thường bị ngập mặn vào mùa gió chướng nên người dân Bến Tre đã chọn cây dừa làm cây trồng chủ lực của mình, vì dừa có biên độ sinh trưởng khá rộng, có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn. Dừa là một món quà thiên nhiên ban tặng đối với những vùng ven biển, đặc biệt là vùng đất Bến Tre này. Dừa đã đi sâu vào tâm thức của con người ở đây: Bến Tre nước ngọt lắm dừa, ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm.11
4. Đặc trưng văn hóa ẩm thực Dừa Bến Tre
4.1. Nguyên liệu chế biến đa dạng, phong phú
Nằm ở giữa môi trường sông và biển, chịu ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới nên hệ sinh thái động thực vật ở Bến Tre cũng mang những đặc trưng của vùng Tây Nam bộ. Với những điều kiện thuận lợi từ thiên nhiên mang lại, cư dân Bến Tre đã biết tận dụng môi trường sông nước với nguồn sản vật dồi dào để làm bữa ăn thêm phong phú.
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc đã cung cấp cho Bến Tre nhiều loại thủy hải sản, trong đó cá là thực phẩm chủ yếu với hơn 120 loài khác nhau 12 được phân thành các nhóm: nhóm cá nước lợ (kèo, bống cát…); nhóm cá biển (đối, bống dừa, trích…); nhóm cá nước ngọt (mè vinh, mè dãnh, rô biển, trê vàng, hô, thác lác, chép, chẻm, bông lau…); nhóm cá sống trên đồng ruộng (lóc, rô, trê, sặc…). Tôm có hơn 20 loại gồm có tôm biển và tôm nước ngọt như: tôm thẻ, tôm sú, tôm đất, tôm bạc, tôm càng xanh…Ngoài ra, còn các loại thủy hải sản khác như: còng, cua, ba khía, ếch, lươn, sò, nghêu, ốc, … Về loài bò sát thích nghi với môi trường sông nước thì cũng đa dạng không kém như: rắn, rùa, kỳ nhông, kỳ đà, rắn mối, chuột đồng, chuột dừa ... Các loại côn trùng như: ong, ấu trùng loài kiến Vương – đuông dừa… Với hệ sinh thái tự nhiên của Bến Tre cũng tạo điều kiện cho các loài chim sinh trưởng, phát triển, tuy số lượng không lớn nhưng khá đa dạng về chủng loại: dơi, cò, diệc, cồng cộc, sáo, le le, chàng nghịch, gà nước, cúm núm…
Ngoài dừa là cây trồng chủ lực ở Bến Tre, các loại cây trồng khác ở Bến Tre cũng khá đa dạng, đặc biệt là cây ăn trái: bưởi da xanh, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm…, tập trung chủ yếu ở huyện Chợ Lách. Thêm vào đó, người dân cũng trồng xen canh lúa nước và các loại hoa màu. Sản lượng thu được không cao, chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu của người dân trong tỉnh.
Bến Tre có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với hai mùa mưa, khô rõ rệt nên các loại rau, hoa, quả nhiệt đới ở Bến Tre cũng phát triển phong phú, đa dạng như: rau muống, rau nhút, rau dừa nước, rau ngổ, môn, bồn bồn, sen, súng, ấu, khoai nước, kèo nèo, cải trời… Người dân Bến Tre rất thích ăn rau, vì đây là loại thức ăn có sẵn ở ao hồ, vườn ruộng, rất dễ tìm. Từ các loại rau quen thuộc thường ngày như: rau đắng, rau dền, bồ ngót, mồng tơi, rau tập tàng, cải xanh … đến các loại lá cây: sầu đâu, lá xoài, lá cách, đinh lăng, lá giang, lá me non …; đọt cây: đọt vừng, đọt bần, đọt chùm ruột, đọt xoài, đọt ổi, đọt cơm nguội, đọt chiết ổi chua…; các loại bông, trái như: bần, xoài non, cóc non, me non, bông súng, cải bông, cải củ, bầu, bí, cà…
Với nguồn sản vật sông nước đa dạng và phong phú như vậy, cư dân Bến Tre đã tận dụng nguồn nguyên liệu động thực vật, thủy hải sản được sản sinh dưới những mương rạch của rừng dừa kết hợp với dừa tạo ra những món ăn đặc sắc của địa phương. Ẩm thực dừa đã tạo thành một phong cách ẩm thực riêng của Bến Tre, mang đậm dấu ấn của môi trường sinh thái tự nhiên nơi đây.
4.2. Khẩu vị
Do tính chất của môi trường sống hoang sơ, nắng nóng đã ảnh hưởng đến khẩu vị ăn của người Tây Nam bộ. Bến Tre thuộc Tây Nam bộ, nên về khẩu vị ăn của cư dân nơi đây cũng giống như cư dân vùng Tây Nam bộ, thích ba vị chủ đạo: ăn mặn (các món mắm); ăn đắng (khổ qua, rau đắng, lá sầu đâu…); ăn chua (mắm chua, canh chua, dưa chua, các loại lá trái chua…). Khẩu vị của cư dân Tây Nam bộ, trong đó có Bến Tre “quyết liệt” như vậy chính là do dấu ấn sắc nét thời khai khẩn, cư dân thời kỳ đó phải đối phó với môi trường thiên nhiên nắng nóng, vừa ưu đãi nhưng cũng vừa hoang dã, đầy đe dọa; khẩu vị ăn như vậy sẽ giúp cư dân ở đây khắc phục được tình trạng mất nước do khí hậu nắng nóng. Cơ cấu bữa ăn nhiều thủy hải sản, nên phải chế biến mặn và cay để khử chất tanh. Sự kết hợp giữa các vị mặn, đắng, chua, cay như vậy, mới có thể tận dụng triệt để nguồn sản vật dồi dào từ môi trường sông nước, cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho con người trong nỗ lực lao động nặng nhọc hàng ngày.
Với tập quán thưởng thức “mùa nào thức nấy” và thói quen ăn uống nhằm có đủ dưỡng chất tái tạo sức lao động, cư dân Bến Tre đã phối hợp các nguyên liệu theo phong cách ẩm thực riêng của mình với các tiêu chí: thơm, ngon, bổ, khỏe. Người Việt nói chung và người dân Bến Tre nói riêng rất quan tâm việc ăn uống bồi bổ sức khỏe, luôn coi trọng yếu tố dược tính cũng như sự kết hợp hài hòa giữa các nguyên liệu làm nên món ăn, thức uống, để có thể đem lại cho con người không chỉ là miếng ăn ngon mà còn có một sức khỏe tốt cho cơ thể.
Ẩm thực Nam bộ còn khác với những vùng miền khác về sự tham gia trong chế biến các món ăn của trái dừa. Đặc trưng này thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất là ở Bến Tre – nơi có thế mạnh về dừa so với các địa phương khác. Dầu dừa, cơm dừa, nước cốt dừa có mặt ở nhiều món ăn trong bữa cơm, trong các loại bánh, các loại chè … của người Bến Tre. Tại hội thi Ẩm thực xứ dừa lần thứ I, tổ chức tại tỉnh Bến Tre vào ngày vào ngày 16.01.2009, bà Nguyễn Hoàng Anh - đại diện Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao cho Bến Tre bằng công nhận kỷ lục: “Ngày hội ẩm thực có số lượng món ăn, thức uống được chế biến từ dừa nhiều nhất13 với 181 món ăn được chế biến từ dừa.
4.3. Một số món ăn đặc trưng từ dừa
Có thể xem dừa là một sản vật, một sự ưu đãi của tạo hóa ban cho vùng đất Bến Tre, hầu như mọi bộ phận của dừa đều được người Bến Tre tận dụng để chế biến các món ăn: nước dừa, cơm dừa, cổ hủ dừa… Nước dừa và nước cốt dừa hầu như có mặt trong tất cả các món ăn của Bến Tre, từ cơm, canh, xào, kho, đến các loại chè, bánh…
* Nước dừa
Nước dừa là loại nước giải khát quý, có vị ngọt thanh, vệ sinh, được dùng phổ biến để làm nước giải khát trong mùa hè oi bức. Ngoài việc dùng trực tiếp như loại nước giải khát, nước dừa cũng được sử dụng nhiều trong việc chế biến các món ăn như: ram, kho, chiên, nướng, rô ti, khìa, hấp… điển hình như các món thịt kho nước dừa, cúm núm quay nước dừa, cá kho nước dừa, chuột đồng khìa nước dừa, tôm hấp nước dừa, mắm kho nước dừa… Cái ngọt đậm, vị béo ngậy của những loại thịt, cá đồng quê hòa quyện với vị ngọt thanh tao của nước dừa tạo nên một ấn tượng khó phai cho các món ăn từ nước dừa của Bến Tre.
Ngoài ra, Bến Tre còn là nơi sản xuất nước màu dừa nổi tiếng. Thắng nước dừa tươi cho đến độ đậm đặc, nổi màu sậm, có mùi thơm, sau đó để nguội dùng để kho tôm, cá, kho thịt tạo nên màu sắc, hương vị của món kho rất đặc trưng, khác với sử dụng nước màu đường như miền Bắc và miền Trung. Dừa tươi còn được người Bến Tre tạo ra món rượu dừa thật tuyệt vời, nồng nàn và đậm đà với hương vị đặc trưng của dừa.
Trong các món ăn đặc sản từ nước dừa không thể không kể đến cơm dừa. Để nấu được món cơm dừa ngon, phải chọn gạo dẻo, ngon, được vo sạch bằng nước dừa tươi. Cho gạo vào trong trái dừa xiêm to tròn, no đầy nước rồi nấu. Cơm dừa chín đều, từng hạt gạo no tròn, bóng loáng, không nhão, không sống sượng, ăn cơm dừa nóng với tép rang nước cốt dừa hay tép chấy thì thật tuyệt hảo.
Một món ăn dân dã từ nước dừa cũng không kém phần đặc sắc, mang đặc trưng hương vị của vùng đất này đó là món tép nhúng nước dừa. Dừa tươi, chọn loại dừa bánh tẻ vừa hái xuống, vạt đít trái dừa cho bằng, đầu dừa cũng vạt ngang giữ lại nắp; tép đồng còn sống, tươi xanh rửa sạch. Khi ăn nhúng tép vào nước dừa (nước dừa kết hợp với tép đồng làm cho tép tái chín không cần nấu), đợi tép hơi ngả sang màu hồng hồng, gắp ra cuốn chung với rau sống, bánh tráng, chấm nước mắm cay rất ngon miệng. Vị ngọt thanh của nước dừa kết hợp với vị ngọt của tép đồng – một sự kết hợp hoàn hảo từ những nguyên liệu sẵn có của vùng đất này, tạo nên hương vị đặc sắc, đặc trưng riêng của món ăn nơi đây.
* Cơm dừa
Món ăn quen thuộc, dân dã từ cơm dừa đầu tiên phải kể đến là món dừa kho, vì món ăn này không có tên trong thực đơn của bất kỳ hàng quán nào. Đây là món ăn kỷ niệm về những ngày đói khổ, lúc thực phẩm khan hiếm. Đề làm món ăn này, chỉ cần đập trái dừa vừa cứng cạy (không già quá, không non quá), lấy cơm dừa cắt thành miếng dài, dầy cỡ 3 ly, cho thêm chút nước mắm, nước màu dừa, kho như kho thịt, là đã có một món ăn đưa cơm hấp dẫn. Thỉnh thoảng, món dừa kho còn được độn thêm ít thịt mỡ, vài con cá đồng, tạo nên hương vị đặc trưng rất riêng, rất bùi, béo và đậm đà.
Từ cơm dừa người dân Bến Tre đã làm ra các sản phẩm nổi tiếng như: bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, kẹo dừa, mứt dừa… Ngày nay, Bến Tre còn có các sản phẩm nổi tiếng khác từ dừa như: sữa dừa, bột sữa dừa, phô mai dừa, yogurt dừa, thạch dừa, rau câu dừa, kem dừa … rất thơm ngon, bổ dưỡng.
Trong đời sống thường ngày, người dân Bến Tre thường có thói quen cho nước cốt dừa vào tất cả các món ăn, nét tinh túy trong ẩm thực Bến Tre chính là nước cốt dừa. Cơm dừa , nạo nhỏ, vắt lấy nước cốt, khuấy chung với một ít bột gạo, muối, đường; nước cốt dừa có vị ngọt nhẹ, bùi, béo ngậy, thoang thoảng mùi thơm của dừa. Nước cốt dừa là nguyên liệu chủ chốt trong các món ăn của Bến Tre đặc biệt là các món ngọt. Người dân Bến Tre đã chế biến ra rất nhiều món chè hấp dẫn từ sự kết hợp giữa nước cốt dừa cùng các nguyên liệu trong vườn nhà như khoai lang, bí rợ, khoai sọ, đậu đen, đậu đỏ…
Ngoài chè, các món bánh được chế biến từ nước cốt dừa và cơm dừa tươi cũng không kém phần hấp dẫn như bánh bò dừa, bánh tét, bánh dừa, bánh khoai mì, bánh tằm bì, bánh đúc, bánh chuối nướng…
Bên cạnh đó, cư dân Bến Tre còn tận dụng những sản vật trong hệ sinh thái rừng dừa – sông nước có trong môi trường tự nhiên kết hợp với nước cốt dừa chế biến ra rất nhiều món ngon, độc đáo như: mắm chưng dừa, lươn um nước cốt dừa, ếch xào lá cách, cá bống kho nước cốt dừa, tép rang dừa, ốc len xào dừa, nấm mối xào lá cách, cháo dừa…
* Cổ hủ dừa
Không chỉ sử dụng những nguyên liệu quen thuộc như nước dừa, nước cốt dừa, người dân nơi đây còn tận dụng từng bộ phận trên cây dừa trong việc sáng tạo ẩm thực, đó là cổ hủ dừa. Cổ hủ dừa là phần búp non nhất nằm giữa ngọn cây dừa. Mỗi cây dừa chỉ có một cổ hủ dừa, bên ngoài là lớp mo xơ, bên trong là phần thịt trắng, giòn, non và ngọt. Cổ hủ dừa được chế biến thành nhiều món khác nhau như kho, xào, làm gỏi… nhưng món gỏi vẫn được ưa thích nhất vì giữ nguyên được vị thanh ngọt tự nhiên. 
Cổ hủ dừa thái mỏng trộn với tôm sú bóc nõn, thịt ba rọi, tai heo thái mỏng, rau răm, hành tây, đậu phộng trộn đều cùng các loại gia vị, tạo thành món gỏi hấp dẫn, đầy màu sắc, hương vị đậm đà khó quên. Gỏi được ăn kèm với nước mắm chua ngọt và bánh phồng tôm. Vị ngọt thanh của cổ hủ dừa kết hợp với vị ngọt, chắc của tôm, vị béo của thịt, vị giòn của tai heo, vị cay của ớt và rau răm … tạo nên một sự kết hợp thật tuyệt vời. Người dân Bến tre còn dùng cổ hủ dừa để làm nhân bánh xèo thay cho giá hoặc kết hợp chung với giá tạo ra một nét biến tấu mang đặc trưng đậm chất Bến Tre.
Bến Tre còn có các loại đặc sản được chế biến từ các loài làm hại cây dừa như chuột dừa, đuông dừa. Chuột dừa là loài chuyên sống trên cây dừa ăn cơm dừa và hút chất ngọt của nước dừa nên thịt rất thơm ngon. Chuột dừa được chế biến thành nhiều món nướng, hấp, cà ri, rô ti… kết hợp cùng nước dừa hay nước cốt dừa hấp dẫn không thể tả. Đuông dừa là ấu trùng của loài kiến Vương, thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng là kẻ thù của dừa. Khi trưởng thành, đuông đục thân cây dừa, chọn nơi ngọn (cổ hủ dừa) làm nơi sinh trưởng. Cây dừa nào bị đuông đục khoét thân đều bị chết, nhưng đuông dừa là một món ăn ngon được nhiều người ưa thích. Từ đuông có thể làm nhiều món khác nhau như đuông tẩm bột chiên, đuông hấp xôi, đuông nướng, đuông nấu cháo, đuông tẩm nước mắm ăn sống…
Anh về miền đất xứ dừa
Nhớ đi thưởng thức đừng chừa món đuông14
Dưới những rừng dừa bạt ngàn, tán dừa xanh rì mát rượi phủ bóng dài trên các con sông, rạch, cư dân Bến Tre đã tạo nên một bản sắc văn hóa ẩm thực độc đáo, không cầu kỳ phức tạp về nguyên liệu, tận dụng môi trường tự nhiên sẵn có để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người. Đây chính là nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực xứ dừa với những món đặc sản tận dụng từ chính loài cây quen thuộc, gắn bó với đời sống của con người nơi đây.
Ẩm thực dừa của Bến Tre mang những đặc trưng riêng, độc đáo của những người một thời đi mở cõi – đó là bản sắc của khẩn hoang, phóng khoáng, không cầu kỳ, câu nệ. Ẩm thực dừa Bến Tre đã trở thành nét văn hóa, lối sống của cư dân vùng đất này, góp phần làm nên bản sắc văn hóa ẩm thực Việt Nam.
Sự tác động của môi trường tự nhiên đã có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa ẩm thực của cư dân Bến Tre. Văn hóa ẩm thực Bến Tre luôn phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa con người nơi đây với môi trường tự nhiên. Trong quá trình tiến về phía Nam mở mang bờ cõi, qua quá trình chinh phục thiên nhiên, ẩm thực của cư dân Bến Tre đã thể hiện rõ thái độ ứng xử của con người đối với tự nhiên để đảm bảo duy trì cuộc sống. Con người đã biết tận dụng những nguồn sản vật dồi dào từ thiên nhiên, sông nước ban tặng, chọn lọc, sáng tạo nhiều món ăn phù hợp với điều kiện sống của vùng đất mới. Sự thích ứng với môi trường tự nhiên của cư dân tại vùng đất này cũng đã thể hiện được tính sáng tạo và linh hoạt của con người, tạo nên những đặc trưng riêng, độc đáo trong văn hóa ẩm thực Bến Tre.

CHÚ THÍCH:
1. Thạch Phương, Đoàn Tứ (cb) 2001: Địa chí Bến Tre: 685. 
2. Xuân Huy 2004: Văn hóa ẩm thực và món ăn Việt Nam
3. Viện Ngôn ngữ học 1989: Từ điển Hán Việt
4. http://vi.wikipedia.org (19/7/2014)
5. Carter G. 1982: Man and the Land
6. Carter G. 1982: Man and the Land
7. Đào Duy Anh 2000: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb.Hội Nhà văn, Hà Nội:14.
8. Trần Ngọc Thêm 2006: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb. TP.HCM: 25.
9. Trần Quốc Vượng 2008: Môi trường con người và văn hóa: Nxb. VHTT & Viện VH, Hà Nội: 120.
10. Thạch Phương, Đoàn Tứ (cb) 2001: Địa chí Bến Tre, tr. 176
11. Thạch Phương, Đoàn Tứ (cb) 2001: Sđd: 685
12. Thạch Phương, Đoàn Tứ (cb) 2001: Sđd: 228
13. Quốc Hùng 2009: Bến Tre được công nhận kỷ lục món ăn từ dừa, Báo Đồng Khởi Bến Tre
14. http://www.bentre.gov.vn/drp/portal/lehoidua/v-1/t-24/n/125.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Caarter G. F. 1982: Man and the Land , Culture Geography, Mc Graw Hill, New York
2. Đào Duy Anh 2000: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
3. Ngô Đức Thị nh 2010: Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam, Nxb. Trẻ, Tp. HCM
4. Ngô Đức Thị nh 2004: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Trẻ TP. HCM
5. Nguyễn Nhã 2009: Bản sắc ẩm thực Việt Nam, Nxb.Thông tấn xã, Hà Nội
6. Quốc Hùng 2009: “Bến Tre được công nhận kỷ lục món ăn từ dừa”, Báo Đồng Khởi Bến Tre
7. Thạch Phương, Đoàn Tứ (cb) 2001: Địa chí Bến Tre, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội
8. Trần Ngọc Thêm 2006: Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình,
Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
9. Trần Quốc Vượng 2005: Môi trường con người và văn hóa, Nxb. Văn hóa thông tin và
Viện Văn hóa, Hà Nội.
10. Xuân Huy (sưu tầm và giới thiệu) 2004: Văn hóa ẩm thực và món ăn Việt Nam (bản thứ hai), Nxb. Trẻ, Tp HCM
11. Viện Ngôn ngữ học 1989: Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
12. http://www.bentre.gov.vn/drp/portal/lehoidua/v-1/t-24/n/70
13. www.saigonamthuc.thanhnien.com.vn
14. http://datmon.vn/tin-tuc/van-ho-a-a-m-thu-c/
15. http://www.bentre.gov.vn/drp/portal/lehoidua/v-1/t-24/n/125
16. http://www.tinmoi.vn/mua-tep -an-rong

Bài đăng trong: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế "Cây dừa Việt Nam - Giá trị và tiềm năng",
do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh in và phát hành tháng 8 năm 2014.

Các tin khác:
Cây dừa Việt Nam với ngành du lịch đương đại: Nhìn từ góc độ cộng đồng địa phương và khách du lịch
Mô hình vườn dừa du lịch ở Bến Tre
Cây dừa với phát triển du lịch văn hóa huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên
Cây dừa với việc khai thác sản vật địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ du lịch
Phát triển du lịch làng nghề ở Bến Tre
Cây dừa trong sự phát triển du lịch bền vững ở Bến Tre
Cây Dừa - Góc nhìn từ ngành du lịch
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cải tạo cơ cấu để tăng hiệu quả kinh tế vườn dừa
Cây dừa Việt Nam - So sánh với cây dừa Đông Nam Á
Các sản phẩm dừa tại Việt Nam
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Cơ sở SX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Kẹo dừa Thanhh Long
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 26.232.100
Online: 30
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun