Danh mục
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
VĂN BẢN MỚI
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DOANH NGHIỆP & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (APCC)
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGÀNH DỪA
TIN CÔNG NGHỆ (APCC)
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
THƯƠNG HIỆU - KỶ LỤC
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Philippines:Tổng quan và những hạn chế của chuỗi cung ứng dừa
05-10-2021

Marife L. Moreno,John KM Kuwornu & Sylvia Szabo

Philippines:Tổng quan và những hạn chế của chuỗi cung ứng dừa

 Ảnh minh họa

Trong bài viết này

Tóm tắt

- Giới thiệu

- Sản xuất dừa ở Philippines

- Thị trường cho các sản phẩm từ dừa

- Cấu trúc chuỗi cung ứng dừa ở Philippines

- Những hạn chế của sản xuất dừa

- Kết luận và Khuyến nghị

- Tài liệu tham khảo 

Tóm tắt

Ngành công nghiệp dừa là một trong những ngành kinh tế quan trọng ở Philippines. Các sản phẩm từ dừa là mặt hàng nông sản xuất khẩu chính ở Philippines. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về chuỗi cung ứng dừa ở Philippines bao gồm sản xuất dừa, thị trường xuất khẩu và cấu trúc chuỗi cung ứng, cũng như phân tích các hạn chế đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp. Một trong những vấn đề lớn trong xuất khẩu các sản phẩm dừa là sản lượng sụt giảm dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu trên thị trường thế giới. Các khuyến nghị chính sách được trình bày.

TỪ KHÓA: Phi-líp-pindừa chuỗi cung ứng chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp

Giới thiệu

Một trong những vấn đề lớn trong xuất khẩu các sản phẩm dừa là sản lượng sản xuất ngày càng giảm, dẫn đến việc các nước xuất khẩu không đáp ứng được nhu cầu trên thị trường thế giới. Là cây trồng nhiệt đới, dừa phát triển mạnh ở khí hậu nóng. Sự phát triển mạnh mẽ của cọ dừa tốt nhất ở 24–29 ° C. Cây cọ dừa ít thích biến đổi ngày và đêm hơn nhưng không chịu được nhiệt độ khắc nghiệt. Lượng mưa đủ là cần thiết để có năng suất tốt của các loại hạt (trái), trong khi mùa khô và ẩm ướt kéo dài có hại dừa. Nó chịu được gió mạnh nhưng không chịu được bão. Dừa được trồng ở các loại đất khác nhau như cát pha, mùn, pha sét với cấu trúc đất tốt, nơi không khí và nước có thể lưu thông tốt. Nó chịu được độ mặn và một loạt các độ pH. Nó thích hợp trong các loại đất có các hàm lượng dinh dưỡng đa lượng cơ bản khác nhau như nitơ, kali, và phốt pho; các chất dinh dưỡng đa lượng thứ cấp, bao gồm lưu huỳnh, canxi và magiê; và các vi chất dinh dưỡng  bo và clo (Đại học Nông nghiệp Kerela2011 ; Prades và cộng sự, 2016 ).

Các phân loại có hệ thống đầu tiên về giống và dạng đã xác định được hai nhóm, cao và lùn, là C. typica và C. nana . Các giống cao chủ yếu là thụ phấn chéo và các giống lùn là tự thụ phấn cao. Tự thụ phấn ở cây dừa lùn là kết quả của sự chọn lọc trong canh tác và dễ dàng thụ phấn chéo, đặc biệt khi được bao quanh bởi những cây dừa cao (Adkins và cộng sự2011). Trái dừa được phân loại thành hai giống cơ bản theo loại cây mang trái. Giống dừa cao cho trái trong vòng 6–10 năm sau khi trồng. Quả của nó chín trong vòng 12 tháng. Ưu điểm của giống cây cao là năng suất của cây kéo dài trong vòng 80–120 năm mà vẫn cho ra chất lượng cơm dừa, dầu và các sản phẩm khác. Giống lùn hoặc lùn cho quả trong vòng 4–5 năm sau khi trồng. Giống này có tuổi sản xuất ngắn hơn so với giống cao. Quả có thể có nhiều màu khác nhau như vàng, đỏ, xanh lá cây và cam (Nayar, 2017a ).

Dừa rất quan trọng đối với nền kinh tế Philippines. Đây là loại cây sử dụng đất nông nghiệp và lao động lớn nhất ở Philippines (Clarete và Roumasset, 1983 ). Do tác dụng của dừa trong nền kinh tế như là nguồn thu nhập chính nên nó được coi là một yếu tố dự báo cho hoạt động kinh tế chung của đất nước. Hơn nữa, xuất khẩu các sản phẩm dừa đóng vai trò là nguồn thu ngoại tệ chính của quốc gia. Ngành công nghiệp ở Philippines cho thấy mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa các thành phần của ba lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh và chế biến. Theo thống kê của FAO ( 2016 ), các đồn điền trồng dừa trên thế giới sản xuất 59.010.635 tấn vào năm 2016. Khu vực sản xuất bao gồm các hộ nông dân sở hữu quy mô trang trại trung bình 0,5–5 ha (Arancon, 1997). Số còn lại là các đồn điền công nghiệp kế thừa từ thời thuộc địa được trồng theo phương thức độc canh. Trong số 81 tỉnh của cả nước, 68 tỉnh là nơi sản xuất dừa (Ranada, 2014 ). Arado 2017 ) báo cáo rằng các khu vực sản xuất hàng đầu trong nước vào năm 2015 là Bắc Mindanao (1,85 triệu tấn), bán đảo Zamboanga (1,68 triệu tấn), Khu tự trị của người Hồi giáo Mindanao (ARMM) (1,39 triệu tấn), và Calabarzon (1,38 triệu).

Sản lượng dừa không có tính cạnh tranh, do đó không khuyến khích nông dân tiếp tục mạo hiểm trồng dừa. Kết quả là, sản lượng dừa đã giảm trong thập kỷ qua. Để tăng sản lượng dừa và tăng xuất khẩu các sản phẩm dừa thô và chế biến, các nhà khoa học và hoạch định chính sách yêu cầu phải đánh giá toàn diện hiện trạng sản xuất dừa và chuỗi cung ứng dừa ở Philippines cũng như đánh giá các rào cản trong việc tăng sản lượng. dừa.

Phần còn lại của bài báo này được cấu trúc như sau. Phần tiếp theo cung cấp đánh giá về chuỗi cung ứng các sản phẩm dừa ở Philippines, bao gồm tổng quan về xu hướng sản xuất, thị trường quốc tế và nội địa đối với các sản phẩm dừa, và chuỗi cung ứng dừa ở Philippines. Phần thứ ba tập trung vào tổng quan về những hạn chế trong việc đạt được năng suất nông nghiệp cao hơn đối với các sản phẩm từ dừa. Phần cuối cung cấp các kết luận và khuyến nghị chính sách cho chuỗi cung ứng dừa và tăng sản lượng dừa ở Philippines.

Sản xuất dừa ở Philippines

Các sản phẩm nông nghiệp được tạo ra từ ngành dừa có sự phức tạp riêng so với các sản phẩm nông nghiệp khác. Các sản phẩm và phụ phẩm của ngành dừa được trình bày trong Bảng 1 theo Javier ( 2015 ) và Nayar ( 2017a , 2017b ). Bảng này mô tả các sản phẩm dừa chính như quả , cùi dừa và dầu dừa và cung cấp các sản phẩm gia tăng giá trị và các sản phẩm phụ của ba sản phẩm chính này.

Bảng 1. Các sản phẩm phụ và phụ phẩm từ dừa sơ cấp ở Philippines

1. Quả

1. Cơm dừa nạo sấy

1. Gáo dừa

1. Vỏ than

 

 2. Nước cốt dừa và bột

 

2. Than hoạt tính

 

3. Nước dừa

 

 

 

4. Dầu dừa nguyên chất

2. Xơ vỏ dừa

1. xơ dừa, chỉ xơ dừa

 

5. Thức ăn

 

2. Bụi xơ dừa (mùn)

 

 

 

3. Vải địa kỹ thuật

2. Cùi dừa và CNO

 

 

 

 

1. Dầu Cochin

1. Bột cùi dừa

1. Thức ăn chăn nuôi

 

2. Dầu diesel sinh học

 

 

 

3. Hóa dầu

 

 

 

4. Dầu tinh luyện, tẩy trắng, khử mùi (RBD)

 

Nguồn: Javier (2015), Nayar (2017a , 2017b)

Dừa được trồng trên các bờ biển nơi chúng thích nghi nhất với điều kiện mặn và trên các sườn đồi, nơi chúng cung cấp các dịch vụ sinh thái thiết yếu, như một sự thay thế tốt nhất tiếp theo cho lớp phủ thực vật của rừng mưa nhiệt đới nguyên thủy. Dừa có khả năng chịu bão và chịu mặn và chỉ có thể bị bật gốc bởi gió cực mạnh. Dừa rụng một số trái và hoa nhưng sẽ phát triển trở lại sau một hoặc hai năm sau khi bão đổ bộ. Những cây này thường được trồng cách nhau 8–10 m và kết trái trong khoảng 4–6 năm. Nó có tuổi thọ trên 60–80 năm mà cọ dầu và cao su không thể sánh bằng. Tổng lợi ích từ dừa cao hơn tổng lợi ích từ cọ dầu và cao su (Arancon, 1997 ; Javier, 2015 ; Nayar, 2017b; Prades và cộng sự, 2016 ).

Cả nước sản xuất 15 loại sản phẩm từ dừa, cụ thể là dừa tươi, cơm dừa, dầu dừa, cùi dừa bánh tẻ, cơm dừa nạo sấy, gáo dừa, than vỏ, bột vỏ, vỏ dừa, xơ dừa nệm, xơ dừa, mụn xơ dừa và hạt xơ dừa, các loại hạt nguyên hạt , dừa nạo vỏ và nước dừa. Xuất khẩu trong giai đoạn những năm 1990 và 2000 chiếm 75% sản lượng và 25% được chế biến và tiêu thụ trong nước (Agustin2005 ; Faustino2006 ; Smith et al., 2009 ). Dữ liệu cũng phù hợp với Clarete và Roumasset ( 1983) trong giai đoạn 1961–1982, khoảng 84% được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và 16% còn lại dành cho thị trường nội địa. Năm 2016, Hà Lan và Hoa Kỳ nhập khẩu số lượng lớn các sản phẩm dừa từ Philippines (FAO2016 ; JICA, 2013 ).

Bảng 2. Các nước xuất khẩu và điểm đến chính của Philippines, 2016

Hàng hóa xuất khẩu hàng đầu

Điểm đến chính của quốc gia

Dừa

Hà Lan (40%) và Mỹ (40%)

Chuối

Nhật Bản (36%) và Trung Quốc (26%)

Quả dứa

Hoa Kỳ (36%)

Cá ngừ

Mỹ (16%) và Nhật Bản (17%)

Nguồn: Cơ quan Thống kê Philippines (2018).

Philippines được ca ngợi là nhà sản xuất dừa lớn thứ hai trên thế giới. Ở trong nước, ngành công nghiệp này cung cấp sinh kế cho một phần ba dân số. Năm 2015, cả nước có 338 triệu cây dừa cho sản lượng trung bình hàng năm là 15,3 tỷ quả hạch. Các nhà nhập khẩu dừa chính từ Philippines là Hoa Kỳ, Hà Lan, Nhật Bản, Đức và Trung Quốc (tháng 4 năm 2015). Tuy nhiên, tỷ trọng dừa trong sản xuất nông nghiệp là 7%. Phần lớn nông nghiệp được tạo ra từ phân ngành trồng trọt, khoảng 56%. Các cây trồng chủ đạo được sản xuất trong nước với tỷ trọng lớn là chuối, dừa, ngô, lúa và mía, đây cũng là những cây trồng truyền thống của cả nước. Tỷ trọng gia súc, gia cầm và thủy sản đóng góp vào khoảng một nửa tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (JICA, 2013)

Bảng 3. Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, 2016 (giá trị so sánh 2000)

CSV

Phân ngành nông nghiệp

Giá trị (triệu peso)

Tỷ phần (%)

Tổng sản lượng nông nghiệp

1.572.840,70

100,00

100,00

Phân ngành trồng trọt

882.616,60

56.12

 

Chuối 

147.704,50

 

9.39

Dừa 

108.478,00

 

6,90

Bắp 

85.326,40

 

5,42

Gạo (palay) 

304.598,80

 

19,37

Đường mía 

44.517,50

 

2,83

Cây trồng khác 

191.991.80

 

12,21

Gia súc và gia cầm

461.290,00

29,33

 

Gia súc 

258.486,80

 

16.43

gia cầm 

202.803,20

 

12,89

Thủy sản

228.934.10

14,55

14,55

Nguồn: Cơ quan Thống kê Philippines (2018).

Các sản phẩm dừa xuất khẩu chủ yếu của Philippines ở trạng thái thô là nhân, vỏ và gáo. Công nghiệp sản xuất hạt nhân sử dụng thịt hoặc cùi dừa. Các sản phẩm được sản xuất từ ​​thịt là dừa cứng cạy (từ ngữ địa phương miền Nam VN, lọai dừa 8-9 tháng tuổi, có thể lấy phần thịt dừa từ gáo lúc còn tươi), dừa tươi, dầu dừa, cùi dừa và cơm dừa nạo sấy. Các sản phẩm này được xuất khẩu sang các khu vực khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, dầu dừa là sản phẩm xuất khẩu chính của cả nước, sau đó là bánh và cơm dừa nạo sấy trong giai đoạn 2008–2013.

Hình 1. Tổng xuất khẩu của Philippines theo sản phẩm, 2008–2013 (Tổ chức Nông lương2018)

Trong năm 2014, diện tích trồng dừa là khoảng 3,5 triệu ha,  tổng sản lượng dừa là 14,696 triệu trái, tương đương 2,217 triệu tấn (MMT). Diện tích trồng dừa chiếm 26% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Trong năm nay, ước tính tiêu thụ nội địa là 5,084 triệu trái, tương đương 0,77 MMT  cùi dừa. Năm sản phẩm dừa xuất khẩu hàng đầu của nước này lần lượt là dầu dừa, cùi dừa bánh tẻ, cơm dừa nạo sấy, than gáo và than hoạt tính. Giá trị xuất khẩu dừa năm 2014 là 1.828 triệu USD với tổng kim ngạch xuất khẩu là 50.913 triệu USD (Cộng đồng dừa Châu Á và Thái Bình Dương, 2018 ; Cơ quan dừa Philippines, 2018). Diện tích sản xuất dừa chiếm 27,19% tổng diện tích đất cho phân ngành trồng trọt.

Diện tích sản xuất dừa ở Philippines tập trung ở đảo Mindanao, đặc biệt là ở vùng Davao, Bắc Mindanao và bán đảo Zamboanga. Ba khu vực này ở Mindanao sản xuất số lượng lớn dừa ở Philippines. Tương tự như vậy, vùng đất rộng lớn của Mindanao thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được đất nước mệnh danh là “Vùng đất hứa” vì những điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Năm 2016, 60,30% lượng dừa được sản xuất từ ​​Mindanao (Cơ quan Thống kê Philippines, 2018 ).

Có 340 triệu cây dừa chiếm 3,502 triệu ha đất canh tác của Philippines. Điều này sản xuất hơn 14 tỷ trái hàng năm và sử dụng 25 triệu người Philippines trong ngành. Năm mươi mốt triệu trong số 340 triệu cây dừa của Philippines đã già cỗi và cần được thay thế. 289 triệu cây còn lại sẽ sản xuất nguyên liệu thô của ngành. Điều này kêu gọi hiện đại hóa sản xuất dừa bằng cách trao quyền cho nông dân và phát triển lĩnh vực sản xuất của đất nước. Sự liên kết thể chế giữa chính phủ, nông dân và khu vực sản xuất sẽ củng cố ngành công nghiệp dừa của Philippines. 289 triệu cây dừa có thể sản xuất 11 tỷ trái dừa với sản lượng 43 quả / cây hàng năm. Con số này tạo nên hàng tỷ quả dừa, nhiều hơn của Ấn Độ, vốn từng được xếp hạng bên cạnh Indonesia và Philippines. Nếu hiện đại hóa và hỗ trợ sản xuất được thực hiện, thì có thể đạt 78 quả / cây / năm, xem xét đất đai và phương thức quản lý phù hợp (Guzman,2013 ).

Năng suất trung bình hiện tại đã giảm đáng kể xuống còn 38–40 quả / cây / năm (tương đương 840 kg / ha cùi dừa) từ mức lý tưởng 75 quả / cây / năm. Mindanao tăng sản lượng từ 52% lên 60% không phải vì sản lượng tăng ở phía nam mà là do sản lượng giảm dần ở các khu vực Visayas và Luzon, nơi có rất nhiều cây già. Vùng Mindanao đóng góp 60,30% tổng sản lượng cả nước năm 2016, tiếp theo là vùng Luzon do tiểu vùng CALABARZON thống trị, và vùng Visayas do tiểu vùng Đông Visayas thống trị ( Bảng 4). Hơn ba triệu ha được dành cho sản xuất dừa. Có 750.000 ha trồng cây già và 490.000 ha cây thiếu dinh dưỡng. Những người phụ thuộc vào ngành dừa có rủi ro cao do xu hướng sản xuất biến động liên quan đến biến động giá cả thị trường thế giới (Faustino, 2006 ).

Bảng 4. Phần trăm phân bố sản lượng theo khu vực, Philippines, 2016

CSVBản

Vùng

Sản lượng dừa (%)

Philippines (MT)

13,825,100

 

Luzon (%)

 

25.87

Cordillera Administrative Region 

 

0.01

Ilocos Region 

 

0.29

Cagayan Valley 

 

0.56

Central Luzon 

 

0.73

CALABARZON 

 

10.98

MIMAROPA 

 

5.49

Bicol region 

 

7.82

Visayas (%)

 

11.90

Western Visayas 

 

2.25

Central Visayas 

 

1.89

Eastern Visayas 

 

7.76

Negros Island Region 

 

1.93

Mindanao (%)

 

60.30

Zamboanga Peninsual 

 

11.07

Northern Mindanao 

 

13.04

Davao Region 

 

13.70

SOCCSKSARGEN 

 

6.93

Caraga 

 

5.61

ARMM 

 

9.96

Nguồn: Cơ quan Thống kê Philippines (2018).

Tổng sản lượng dừa của cùi dừa là 2,258 MMT và 14,735 tỷ quả cho các loại hạt được sản xuất trong năm 2015 (Bảng 5). Nó cho thấy xu hướng giảm sản lượng của cả hai sản phẩm trong suốt cả năm. Đáng chú ý là sự sụt giảm sản lượng bắt đầu từ năm 2013 do ảnh hưởng của cơn bão mạnh trong nước đã phá hủy hầu hết các cây dừa (UCAP). Trong đợt thiên tai này, cơn bão mạnh đã làm hư hại 33 triệu cây trên toàn khu vực Đông Visayas với tổng thiệt hại ước tính là 396 triệu đô la Mỹ (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp2014). Prades và cộng sự (2016) cho biết sản phẩm dừa chế biến sơ cấp, cùi dừa, ít được giao dịch trên thị trường quốc tế hơn so với dầu dừa.

Bảng 5. Sản lượng dừa ở Philippines giai đoạn 2001–2015

Năm

Cùi dừa (tính bằng triệu tấn)

 Tương đương với trái (tỷ)

2001

2.842

15.031

2002

2.315

12.133

2003

2,549

13,789

2004

2.377

12.458

2005

2.652

14.825

2006

2,554

14,958

2007

2.213

14.853

2008

2.387

15.320

2009

2.758

15,656

2010

3.030

15.540

2011

2,550

15.207

2012

2,510

15.238

2013

2.760

15.354

2014

2.192

14,696

2015

2.258

14,735

Nguồn: United Coconut Association of the Philippines, Inc. (UCAP, 2016 ).

Năng suất là một chỉ số về năng suất được tính bằng cách chia tổng sản lượng cho diện tích thu hoạch cây trồng tạm thời hoặc cho tổng số cây mang trái trong số các cây trồng lâu dài. Đơn vị tính bằng tấn trên ha hoặc kilôgam trên cây mang trái. Năng suất dừa hàng năm trên một cây mang / đồi (kg) từ năm 2003 đến năm 2008 trung bình là 44,35 kg trên một cây mang. Năng suất trung bình trên một ha dừa là 4,475 tấn.

Bảng 6. Năng suất dừa hàng năm 2003-2008

 

Năm

Vị trí

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Mỗi cây mang trái / tính bằng kg.

Phi-líp-pin 

44.07

43.34

45,11

44,59

43,85

45,14

Năng suất trên ha. (MT)

Phi-líp-pin 

4,44

4,41

4,57

4,48

4,42

4,53

Nguồn: Cục Thống kê Nông nghiệp, Cơ quan Thống kê Philippines (2008).

Thị trường cho các sản phẩm từ dừa

Nhiều sản phẩm thực phẩm được sản xuất từ ​​dừa (ví dụ: nhân / thịt, nước cốt dừa, dầu dừa và nước dừa / nước trái cây) và nhựa dừa (ví dụ: nhựa cây tươi, giấm, mật hoa dừa / mật dừa và đường nhựa cây tự nhiên). Ngoài ra, dừa còn được sử dụng làm nguyên liệu phi thực phẩm cho các sản phẩm có giá trị cao khác nhau, bao gồm cả các sản phẩm từ vỏ và gáo. Vỏ dừa được chế biến thành các sản phẩm công nghiệp khác. Gáo dừa được chế biến thành than và bán cho các nhà chế biến than hoạt tính (Magat và Secretaria, 2007 ). Ngành công nghiệp dừa được phân loại thành công nghiệp nhân dừa, công nghiệp ép trích và công nghiệp vỏ.

Một chức năng chính của thị trường là hình thành giá cả. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá cả hàng hóa nông nghiệp đang tăng và sự điều chỉnh của những mức giá này đối với các yếu tố môi trường kinh doanh về bản chất là phi tuyến tính (ví dụ, Hassouneh và cộng sự2015 ). Hình thành giá hiệu quả là hình thức giá phù hợp với chi phí lưu kho, vận chuyển, chế biến và các dịch vụ phân phối khác với biên giá tương ứng của chúng. Biên giá ảnh hưởng đến quyết định của các doanh nghiệp tư nhân và chính phủ cũng như các quy định của chính phủ về dịch vụ phân phối nông sản (Timmer, 1987). Cấu trúc thị trường của ngành dừa là một yếu tố quan trọng trong giao dịch. Nó là một yếu tố quyết định trong việc thiết lập giá thị trường. Cấu trúc thị trường cung cấp thông tin về các yếu tố thúc đẩy thị trường sản phẩm dừa quốc tế, các yếu tố nhu cầu của những người tiêu dùng lớn trên thế giới, các hạn chế thương mại và các yêu cầu pháp lý khác. Thị trường dừa được phân thành hai loại: (1) thị trường nội địa và (2) thị trường quốc tế (Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc2017 ).

Thị trường nội địa

Cơ quan Quản lý Dừa Philippines (PCA) phân loại giá thị trường của cùi dừa ở thị trường nội địa thành hai loại: (1) giá nhà máy (tức là giá do đại lý quy định ở các vùng khác nhau của đất nước) và (2) giá nông sản (tức là , giá cùi dừa được mua từ các nhà máy xay / chế biến). Guerrero1985 ) phát biểu rằng hoạt động tiếp thị trong nước hoặc địa phương theo dõi việc chuyển các loại trái từ nông dân ở dạng thô đến các nhà kinh doanh dừa và sau đó đến người tiêu dùng cuối cùng: nhà nhập khẩu cùi dừa, máy xay dầu dừa và máy chế biến dừa dừa nạo sấy.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2001), giá tại trang trại là giá của sản phẩm có sẵn tại trang trại, không bao gồm phí vận chuyển hoặc giao hàng được lập hóa đơn riêng. Giá sản xuất là giá trung bình hoặc giá trị đơn vị mà nông dân nhận được trên thị trường nội địa đối với một loại nông sản cụ thể được sản xuất trong khoảng thời gian 12 tháng cụ thể. Giá này được đo tại cổng trang trại - tức là tại thời điểm hàng hóa rời trang trại - và do đó không bao gồm chi phí vận chuyển và chế biến. Sản phẩm dừa được sử dụng trong nước là cơm dừa, dầu dừa thô, dầu cochin, dầu RBD, cơm dừa nạo sấy, cám dừa, vỏ dừa, và than gáo dừa (Cơ quan Dừa Philippines2018 ).

Theo Aragon2000 ), chế biến cùi dừa thường được thực hiện ở cấp trang trại. Việc chế biến quy mô nhỏ các sản phẩm chế biến từ dừa như giấm dừa, dầu dừa, xơ dừa và than dừa được thực hiện ở cấp làng / cộng đồng / barrio thông qua các tổ chức nông dân trồng dừa nhỏ (SCFO) hoặc hợp tác xã ở một mức độ hạn chế. Chế biến dừa quy mô lớn thường được thực hiện bởi các ngành có công suất nhà máy (ví dụ: nhà máy dầu dừa, nhà máy cơm dừa nạo sấy, công ty hóa dầu, công ty chế biến giấm dừa, công ty chế biến nước dừa, công ty chế biến nước cốt dừa, nhà máy chế biến xơ dừa, v.v.).

Khoảng 36% thị phần cơm dừa trong nước được chế biến thành dầu dừa và các sản phẩm chế biến thứ cấp khácHình 2 ). Theo Agustin2005 ) và Faustino2006 ), xuất khẩu dừa chiếm 80% sản lượng và 20% được chế biến và tiêu thụ trong nước. Dữ liệu cũng phù hợp với Clarete và Roumasset1983 ) rằng 84% được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và 16% còn lại dành cho thị trường nội địa. Rõ ràng là các sản phẩm từ dừa đóng góp một thị phần cao hơn trong xuất khẩu từ Philippines.

Hình 2. Xu hướng xuất khẩu sản phẩm dừa ở Philippines, 1961–2017 (FAO2018 )

Thị trường quốc tế

Các thị trường chính xuất khẩu nông sản hàng đầu của Philippines là (1) Mỹ và Hà Lan đối với dầu dừa; (2) Nhật Bản đối với chuối tươi và tôm, tép; (3) Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan và Hàn Quốc đối với dứa và các sản phẩm từ dứa; (4) Mỹ, Nhật Bản và Đức đối với cá ngừ; (5) Mỹ, Bỉ, Đài Loan và Hà Lan đối với cơm dừa nạo sấy; và (6) Hoa Kỳ, Đan Mạch, Anh và Pháp xuất khẩu rong biển và carrageenan (Văn phòng Kế hoạch Kinh tế Thượng viện, 2009 ).

Hình 2 cho thấy xu hướng giảm sút của số lượng xuất khẩu các sản phẩm dừa, cụ thể là dừa thô (dừa), dầu dừa (CNO), cơm dừa nạo sấy và cùi dừa bánh tẻ trong giai đoạn 1961–2017. Xu hướng sụt giảm khối lượng xuất khẩu này có liên quan đến số lượng sản xuất dừa giảm (APCC, 2018 ; FAO, 2014 ; Smith et al., 2009 ; ACIAR, 2007 ; Aragon, 2000 ; Magat, 2000 ; Manicad, 1995 ; PCA , 2018 ). Philippines là nước xuất khẩu dầu dừa và cùi dừa cao nhất thế giới. Nước này đứng thứ 7 về xuất khẩu dừa thô trên thế giới (Tổ chức Nông lương, 2018).

Ngành công nghiệp dừa được coi là huyết mạch của nền nông nghiệp Philippines được coi là trụ cột chính về thu ngoại tệ của đất nước (Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc, 2007 , 2017 ). Năm 2013, ngành dừa đóng góp 4% vào tổng giá trị gia tăng ngành nông nghiệp (Aquino và Ani, 2016). Cơ quan Thống kê Philippines báo cáo rằng các mặt hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu tính đến năm 2016 là dầu dừa (22%), chuối tươi (14%), dứa và các sản phẩm (14%), và cá ngừ (5%). Năm 2016, ngành dừa đóng góp 22% tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu cùng năm, nông nghiệp đóng góp 9% từ giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản lên tới 5.280 triệu USD Miễn phí vận chuyển (FOB). Các thị trường chính của dầu dừa là Hà Lan (40,42%) và Hoa Kỳ (40,18%), trong khi 20% còn lại được xuất khẩu sang Nhật Bản, Malaysia, Ý và các nước khác.

Bảng 7. Xuất khẩu của Philippines: khối lượng và giá trị theo điểm đến của các quốc gia chủ yếu, năm 2016

Háng hóa và điểm đến

Khối lượng

Giá trị

Tỷ lệ %

Khối lương và giá trị (1.000 tấn: triệu USD)

Dầu dừa (thô và tinh chế)

755.61

1,151.69

100.00

Netherlands

340.78

465.46

40.42

United States of America

279.59

462.71

40.18

Japan (excludes Okinawa)

34.67

52.29

4.54

Italy

24.20

32.77

2.85

Malaysia

18.07

26.58

2.31

Quốc gia khác

58.31

111.87

9.71

Source: Philippine Statistics Authority.

Tổng sản phẩm quốc nội, khả năng cạnh tranh xuất khẩu và khả năng đáp ứng yêu cầu chất lượng của một quốc gia ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu nông sản (Bojnec và Fertő, 2016 ; Bojnec et al., 2014 ).

Cấu trúc chuỗi cung ứng dừa ở Philippines

Quản lý chuỗi cung ứng là một tập hợp các phương pháp được sử dụng để tích hợp hiệu quả các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho hàng và cửa hàng để hàng hóa được sản xuất và phân phối với số lượng phù hợp, đến đúng địa điểm và vào đúng thời điểm, nhằm giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng các yêu cầu ở cấp độ dịch vụ (Lambert và Cooper, 2000 ). Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các bên tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc thực hiện yêu cầu của khách hàng. Chopra và Meindl ( 2007) cho biết rằng nó không chỉ bao gồm nhà sản xuất và các nhà cung cấp mà còn bao gồm các nhà vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và thậm chí cả chính khách hàng. Trong mỗi tổ chức, chẳng hạn như một nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc tiếp nhận và thực hiện yêu cầu của khách hàng. Các chức năng này bao gồm, nhưng không giới hạn, phát triển sản phẩm mới, tiếp thị, hoạt động, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng.

Pabuayon và cộng sự. ( 2009 ) đã minh họa cấu trúc của chuỗi cung ứng cùi dừa và dầu dừa bao gồm sáu bên liên quan phụ thuộc lẫn nhau để chuỗi hoạt động hiệu quả và hiệu quả. Đó là (1) nông dân-nhà sản xuất, (2) thương nhân, (3) nhà chế biến, (4) kho hàng và phân phối, (5) nhà bán buôn và bán lẻ, và (6) người tiêu dùng. Những người bán buôn dừa và các sản phẩm phụ từ dừa cũng như ngũ cốc chiếm ưu thế so với những người bán buôn nhỏ. Những người bán buôn sản phẩm dừa và ngũ cốc chiếm phần lớn trong số những người bán buôn nông sản (Intal và Ranit, 2001 ; Ponce, 2004 ).

Người nông dân là người sản xuất và sơ chế các loại hạt thành cùi dừa. Thương nhân bao gồm hai loại: (1) thương nhân barrio / cộng đồng và (2) thương nhân thành phố / thị trấn. Người nông dân phụ thuộc vào giá cả do thương lái quy định. Họ không được quan tâm để phát triển và nâng cao vị thế như những doanh nhân trong ngành dừa. Họ vẫn nghèo so với tất cả các tác nhân khác trong chuỗi cung ứng. Các bộ xử lý được phân loại thành ba hoạt động: (1) bộ phận 1 : máy ép dầu, (2) bộ phận  2 : nhà máy lọc dầu và (3) bộ phận  3: đối với dầu không ăn được. Chúng là các bộ phận công nghiệp và thương mại của chuỗi chuyển đổi các sản phẩm sơ cấp thành dầu dừa dùng làm nguyên liệu cho các sản phẩm chế biến khác. Các kho hàng và trung tâm phân phối thực hiện chức năng lưu kho và phân phối. Người bán buôn và người bán lẻ thực hiện chức năng bán buôn và bán lẻ.

Hình 3 cho thấy kênh tiếp thị các sản phẩm dừa ở Philippines. Hạt do nông dân sản xuất được bán cho thương lái ở dạng cùi dừa. Người nông dân bán trực tiếp cho các thương nhân hoặc nhà chế biến của thị trấn, nhưng phần lớn được chuyển qua các thương lái / thương lái cộng đồng do chi phí hậu cần trong việc đưa sản phẩm đến khu vực chợ. Những người buôn bán trong cộng đồng / barrio (*) cũng có thể bán cùi dừa cho những người buôn bán trong thị trấn. Đối tượng sử dụng cùi dừa là nhiều loại chế biến khác nhau như máy xay dầu, nhà sản xuất và xuất khẩu hóa chất dừa, và nhà xuất khẩu cơm dừa. Người sử dụng dừa nạo vỏ là máy hút ẩm, nhà sản xuất và xuất khẩu than củi và than hoạt tính, nhà sản xuất và xuất khẩu xơ dừa. Dừa xiêm là loại quả còn nguyên quả được bán dưới dạng quả hạch chưa qua sơ chế. Các sản phẩm phụ của bình hút ẩm được xử lý bởi các nhà sản xuất và xuất khẩu than củi và than hoạt tính. Các nhà xuất khẩu cùi dừa cũng có thể bán sản phẩm cho các nhà xay ép dầu sau khi mua cùi dừa từ thương lái. Các sản phẩm phụ của máy ép dầu có thể được chế biến bởi các nhà sản xuất và xuất khẩu hóa chất dừa. Sáu nhà chế biến được xác định tạo nên lĩnh vực chế biến của ngành công nghiệp dừa. Các thị trường nước ngoài là Mỹ, Châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản.

(*) Được dịch từ tiếng Anh-Barrio là một từ tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "khu phố" hoặc một cộng đồng địa phương hóa trong một thành phố lớn hơn, thị trấn, vùng ngoại ô hoặc khu vực nông thôn. Các vùng lân cận thường là các cộng đồng xã hội với sự tương tác trực diện đáng kể giữa các thành viên. Trong ngôn ngữ Tây Ban Nha hiện đại, nó thường được định nghĩa là từng khu vực của một thành phố, thường được phân biệt theo các đặc điểm chức năng, xã hội, kiến ​​trúc hoặc hình thái.

Hình 3. Các kênh tiếp thị sản phẩm dừa ở Philippines (Clarete và Roumasset1983)

Hình 4 minh họa kênh thị trường của cùi dừa. Người nông dân sản xuất và chế biến các loại hạt thành cùi dừa và bán cho thương lái trong thị trấn với giá niêm yết trên mỗi kg. Sau đó, thương lái giao cùi dừa cho nhà máy xay dầu với giá tính theo kg. Nhà máy xay dầu sản xuất dầu dừa thô và chuyển cho nhà máy lọc dầu với giá tính theo kg. Sản phẩm cuối cùng (dầu ăn) sau đó được bán cho người tiêu dùng với các mức giá khác nhau, đó là CNO không có nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu. Thương nhân trong thị trấn cũng có thể chế biến các loại hạt mua từ nông dân thành cùi dừa cũng được bán cho nhà máy xay dầu. Có nhiều kênh tiếp thị khác nhau cho dừa do nông dân sản xuất tùy thuộc vào loại sản phẩm, chẳng hạn như hạt vỏ, cùi dừa, hoặc các sản phẩm chế biến khác (Pabuayon et al., 2009).

Hình 4. Các kênh tiếp thị cùi dừa và dầu dừa ở Philippines

Nguồn: Pabuayon et al. (2009).

Hình 5 cho thấy kênh tiếp thị của các loại trái đã lột vỏ (cả hạt “buko” non và hạt già). Toàn bộ các loại trái được bán tươi và sống, và không có quá trình xử lý sơ bộ nào. Người nông dân có thể bán nó cho những người mua số lượng lớn trong làng hoặc cho những người buôn bán trong thị trấn. Có những trường hợp một số người trung gian đóng vai trò trung gian giữa người nông dân và người chế biến. Quá trình khác nhau sẽ biến đổi các loại hạt để bán cho các nhà bán lẻ và người tiêu dùng.

Hình 5. Các kênh tiếp thị dừa lột vỏ ở Philippines

 

Nguồn: Pabuayon et al. (2009).

Những hạn chế của sản xuất dừa

Ngành dừa có sẵn nguyên liệu trồng để nhân giống nhưng diện tích trồng chưa được tận dụng hết. Các vùng sản xuất dừa không có hệ thống tưới tiêu sẵn có. Các loại cây trồng không thể phát triển tốt do được trồng ở các vùng đất bìa chéo. Ngoài ra, kỹ thuật xen canh chỉ được áp dụng cho 30% diện tích đất.

Các vấn đề chính khác mà ngành dừa phải đối mặt bao gồm sự già cỗi của cây dừa; sử dụng tràn lan các giống dừa kém chất lượng hoặc năng suất thấp do không có nguồn giống dừa chất lượng; thực hành nông học hoặc quản lý trang trại kém; chặt phá dừa không suy giảm vì thị trường cho gỗ xẻ tiêu thụ tốt; đất nghèo dinh dưỡng; tỷ lệ sâu bệnh hại; Thiên tai; chuyển đổi đất trồng dừa; thiếu nguồn lực bền vững và đầy đủ để hỗ trợ cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghiên cứu và khuyến nông về gia tăng giá trị, kỹ năng kỹ thuật và phát triển kỹ năng kinh doanh của nông dân trồng dừa nhỏ; và các vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất (Aragon, 2000 ; Magat, 2000 ; Manicad, 1995; Tổ chức Hòa bình và Công bằng, 2016 ; PCA,1995 ).

Hơn nữa, chi phí lắp ráp cao do đường từ trang trại đến thị trường kém và các trang trại quy mô nhỏ và các kênh tiếp thị nhiều lớp đã góp phần vào sự kém hiệu quả của chuỗi cung ứng. Các nhà máy xay ép và tinh luyện được xây dựng nhưng chưa được sử dụng hết. Thiếu nguyên liệu cho ngành xay ép. Quy mô kinh tế trong cung cấp đầu vào, chế biến sơ cấp và tiếp thị bị ảnh hưởng bất lợi bởi các sở hữu nhỏ và không có tổ chức (Dy và Reyes, 2006 ; Israel và Briones, 2014 ; PCA, 2011 ).

Nền tảng đa bên do PCA cung cấp cho phép tất cả các bên tham gia, quyết định và thực hiện chương trình cũng như tìm ra giải pháp cho các vấn đề là rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành dừa. Tuy nhiên, chương trình cho ngành này bị ảnh hưởng nhiều bởi sự thay đổi thường xuyên của ban lãnh đạo PCA. Chương trình PCA thiếu sự hỗ trợ và sự phụ thuộc hàng thế kỷ vào giải pháp thuế COCOFUND.

Trên thị trường quốc tế, ngành công nghiệp này có thị trường xuất khẩu và nội địa phát triển mạnh, ổn định và tăng trưởng nhưng bị cản trở bởi hình ảnh toàn cầu kém về độ tin cậy của nguồn cung. Tiềm năng tốt cho các sản phẩm nông nghiệp giá trị gia tăng đang bị đe dọa bởi phản ứng kém của chính phủ. Dầu dừa có nhu cầu về nhiên liệu thay thế tốt (dầu dừa methyl ester-biodiesel) bị đe dọa bởi sự cạnh tranh giữa các loại dầu nhiệt đới khác như dầu cọ và dầu hạt cọ. Nông dân trồng dừa đang gặp khó khăn do năng suất trang trại thấp và thị trường không ổn định và kém phát triển cho cùi dừa và dầu dừa (Dy và Reyes, 2006 ; Israel và Briones, 2014 ).

Kết luận và Khuyến nghị

Nghiên cứu này khám phá các chuỗi cung ứng dừa ở Philippines nhằm đưa ra các khuyến nghị về chính sách và các nghiên cứu trong tương lai cho sự phát triển của ngành công nghiệp dừa. Hiện nay, Philippines là nước xuất khẩu các sản phẩm từ dừa hàng đầu thế giới. Ngành công nghiệp dừa có tỷ trọng ngày càng tăng trong xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp. Trên toàn cầu, Philippines được xếp hạng là nhà sản xuất dừa lớn thứ hai. 80% sản lượng được xuất khẩu và 20% được tiêu thụ trong nước, bao gồm các sản phẩm chế biến khác nhau. Chuỗi cung ứng dừa trong nước rất đa dạng và phức tạp, từ khâu sản xuất đến thị trường trong nước và quốc tế. Các chuỗi cung ứng được đặc trưng bởi dòng thông tin hạn chế đến các thành viên kênh hạ nguồn dẫn đến chi phí tiếp thị cao. Người nông dân thiếu kỹ năng kinh doanh và kỹ thuật để quản lý các trang trại dừa. Phần lớn cùi dừa ở các vùng được bán cho người mua cộng đồng trước khi cùi dừa đến các nhà máy. Giá cùi dừa phần lớn bị ảnh hưởng bởi giá dầu dừa thế giới cũng như điều kiện cung cấp cùi dừa trong nước.

Nghiên cứu này đưa ra các khuyến nghị sau dựa trên tổng quan và những hạn chế của ngành dừa được trình bày trong bài báo này. Đầu tiên, để tối đa hóa năng suất trong ngành dừa, cần phải thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên trong chuỗi cung ứng dừa. Thứ hai, các chính sách và biện pháp can thiệp cần được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của ngành để các nhà sản xuất và các nhà sản xuất có thể tận dụng cơ hội một cách hợp lý và sản xuất với số lượng và chất lượng theo yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Thứ ba, có 340 triệu cây dừa chiếm 3,56 ha đất canh tác của Philippines. Những sản phẩm này mang lại hơn 14 tỷ trái mỗi năm và sử dụng 25 triệu người Philippines trong ngành. 51 triệu trong số 340 triệu cây dừa của Philippines đã già cỗi và cần được thay thế. 289 triệu cây còn lại sẽ sản xuất nguyên liệu thô của ngành. Điều này kêu gọi hiện đại hóa sản xuất dừa bằng cách trao quyền cho nông dân và phát triển khu vực sản xuất để thúc đẩy các hoạt động trong ngành. Cuối cùng, cần tăng cường liên kết thể chế giữa chính phủ, nông dân trồng dừa và khu vực chế biến ở Philippines để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành.

Nghiên cứu này không phải là không có giới hạn. Nó cung cấp một đánh giá toàn diện về sự phát triển trong chuỗi cung ứng dừa ở Philippines. Tuy nhiên, nó không cung cấp một phân tích thực nghiệm chi tiết về chuỗi giá trị và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm dừa ở Philippines. Do đó, việc kiểm tra giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng dừa sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho các nghiên cứu trong tương lai. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm dừa từ Philippines là một hướng đi khác cần nghiên cứu thêm.

HH Dừa BT: Qua 2 bài báo cáo Hiện trạng và triển vọng phát triển dừa ở Indonesia của tác giả J C Alouw * 1 và S Wulandari1 1 Tổng quan và những hạn chế của chuỗi cung ứng dừa ở Philippines củaMarife L. MorenoJohn KM Kuwornu &Sylvia Szabo có những số liệu từ nhiều năm trước như 2016- 2017-2018. Tuy vậy thực trạng sản xuất dừa của 2 quốc gia này không có thay đổi lớn. Những số liệu này vẫn thể hiện được bức tranh toàn cảnh ngành dừa của thế giới dừa hiện nay.

Nguồn: tandfonline.com

------

Tài liệu tham khảo (xem trích dẫn tại đây)


Các tin khác:
ICC: Tổng quan thị trường chỉ xơ dừa
ICC:Tổng quan thị trường than hoạt tính
ICC: Tổng quan thị trường sản phẩm cơm dừa nạo sấy
ICC:Tổng quan thị trường dầu dừa
ICC:Tổng quan thị trường xơ dừa
ICC: Tổng Quan thị trường dầu dừa
Tổng quan thị trường than hoạt tính
Dừa Bến Tre – cây cho nhiều sản phẩm nhất Việt Nam
ICC: Tổng quan thị trường giá chỉ xơ dừa
ICC: Tổng quan thị trường cơm dừa nạo sấy
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Cơ sở SX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Kẹo dừa Thanhh Long
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 24.049.892
Online: 39
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun