Danh mục
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
VĂN BẢN MỚI
TIN TỨC & SỰ KIỆN
DOANH NGHIỆP & SẢN PHẨM
HỘI NHẬP
KHỞI NGHIỆP & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LIÊN KẾT/HỢP TÁC
TIN CỘNG ĐỒNG (APCC)
THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
BẢN TIN GIÁ DỪA
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
HỘI CHỢ - TRIỂN LÃM
CƠ HỘI KINH DOANH
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGÀNH DỪA
TIN CÔNG NGHỆ (APCC)
KỸ THUẬT TRỒNG DỪA
DỪA VÀ SỨC KHỎE
VĂN HÓA DỪA
VIDEO CLIP
THƯƠNG HIỆU - KỶ LỤC
LỄ HỘI DỪA BẾN TRE
THỐNG KÊ NGÀNH DỪA
THƯ VIỆN ẢNH
HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI DỪA

“ Website này được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo Bến Tre (DBRP Bến Tre ) và sự góp sức của nhiều bạn bè. Hiệp hội Dừa Bến Tre rất mong thành viên của Hiệp hội và thân hữu xa gần tiếp tục giúp đỡ, góp ý và gởi tin - bài, để  Website ngày càng hoàn chỉnh và có ích”.

HIỆP HỘI DỪA BÊN TRE

Thông tin cần biết
 
Cải thiện năng suất dừa và các loại cây trồng khác trong điều kiện đất mặn
07-04-2020

CHUYÊN MỤC: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGÀNH DỪA


 HHD: Trong các bài viết tại chuyên mục: Nghiên cứu khoa học ngành dừa và chuyên mục: Kỹ thuật chăm sóc dừa, Hiệp hội Dừa Bến Tre (HHD) có giới thiệu nhiều bài viết có liên quan đến việc chăm sóc cho cây dừa khắc phục giảm năng suất trong những điều kiện tác động bất lợi từ thiên nhiên.

Từ cuối năm 2019 cho đến nay, hiện tượng hạn, mặn đã ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp cho phần lớn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Và trong tương lai, nông nghiệp ĐBSCL sẽ luôn phải đối mặt với tình trạng hạn, mặn này và có thể ở mức độ cao hơn.

Nhằm giúp nông dân khắc phục phần nào những thiệt hại về năng suất cho cây trồng, vật nuôi, trong đó có cây dừa do hạn, mặn gây ra. HHD xin được giới thiệu những giải pháp mang tính căn cơ, áp dụng thuận lợi trong điều kiện vốn ít, thiếu lao động nhưng lại rất có hiệu quả.

Bài viết chia thành hai phần: Lý thuyết và Thực hành

Phần 1. Phần lý thuyết: Giới thiệu những nguyên lý, giải thích lý do vì sao phải thực hiện như vậy. Những nguyên lý cơ bản này đều đã được giới thiệu trên những bài báo cáo khoa học tại các Trường, Viện, thậm chí là được đưa vào các giáo trình của các trường đào tạo chuyên ngành về nông nghiệp thủy lợi trong và ngoài nước. Nếu độc giả nào không có thời gian, có thể bỏ qua phần này và đi thẳng vào phần thực hành. Nhưng nếu chịu khó xem qua, độc giả có thể hiểu thêm các lý giải trong khuyến cáo có liên quan đến chăm sóc cây trồng sau giai đoạn nhiễm mặn trong các bài trước đó như vì sao sau giai đoạn hạn mặn không nên bón urê sớm mà phải sử dụng các loại phân như vôi, lân, kali và kết hợp với nhiều giải pháp khác…và độc giả cảm thấy tự tin hơn khi bắt tay vào thực hành.

Phần 2. Phần thực hành: Những cách thức mà bà con nông dân có thể áp dụng có hiệu quả trong ở mức độ chi phí và công lao động thấp nhất nhưng chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả.

I- PHẦN LÝ THUYẾT

I.1. Thực trạng:

Xâm nhập mặn là một mối nguy trong các tầng chứa nước ven biển trên toàn thế giới. Tài nguyên nước mặt, như sông và kênh rạch, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự xâm nhập của nước mặn từ biển. Ở các vùng ven biển đồng bằng lớn như của Việt Nam, Bangladesh và Ấn Độ, nước bề mặt và gần bề mặt dễ bị ô nhiễm nhất do xâm nhập mặn, khiến hơn 60 triệu người gặp nguy hiểm khi đến mùa khô. Biến đổi khí hậu và con người chịu trách nhiệm cho việc gia tăng mức độ nhiễm mặn này, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, điều này cũng gây ra hậu quả bất lợi cho sức khỏe, như tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp và các bệnh tim mạch, bệnh đường ruột… cao hơn.

Theo phân tích của tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh(1), có nhiều nguyên nhân dẫn đến thảm hoạ này:

-       Thứ nhất, nguồn nước mặt bị ô nhiễm do việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu và các hoạt động nuôi trồng, chế biến thuỷ sản.

-       Thứ hai, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức.

-       Thứ ba, mực nước biển dâng và ngập mặn do biến đổi khí hậu.

-       Và cuối cùng, thứ tư, nguồn nước bị chặn ở thượng nguồn do mạng lưới thuỷ điện chằng chịt.

Trong các nguyên nhân trên, chắc hẳn nguyên nhân cuối cùng đóng vai trò chính yếu nhất. Theo nhận định của ông Trần Bá Hoằng, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam: “Từ năm 2010 đến nay, Trung Quốc liên tục vận hành các đập thủy điện đã làm dòng chảy thay đổi, ảnh hưởng đến hạ lưu, làm mặn xâm nhập sớm, sâu hơn trên diện rộng của hệ thống sông, kênh rạch.

Như thông tin cung cấp bởi nhà báo Hannah Beech đăng trên New York Times ngày 15-2-2020, Trung Quốc đã vận hành 11 con đập trên song Mekong, trong đó ba đập lớn nhất tác động trực tiếp dòng chảy của con sông là Nọa Trác Độ, Tiểu Loan, Mạn Loan. Hơn nữa, thay vì xây đập ở các nhánh phụ, Trung Quốc lại xây đập trên dòng chính của Mekong. Vì vậy, nước này đang kiểm soát gần như tuyệt đối nhịp sống của dòng sông. Vào đầu tháng Giêng năm nay, chỉ sau vài ngày chạy thử việc giảm ½ lượng nước xả từ đập Cảnh Hồng, mực nước tại một số khu vực hạ lưu Mekong thấp đến mức một số nhánh sông như thể đột nhiên biến mất (National Geographic 31-1-2020). Việc Trung Quốc kiểm soát Mekong đã khiến một số quốc gia khác ở khu hạ lưu cũng chạy đua xây đập; vì vậy, đã có thêm 10 đập khác ở hạ lưu và hàng trăm đập khác ở các vùng phụ lưu. Kết quả, sông Mekong đang bị bức tử, ảnh hưởng đến đời sống của khoảng 60 triệu người. Thêm nữa, tình hình sẽ ngày càng tồi tệ hơn khi nông dân có xu hướng dùng nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu để bù lại sự cạn kiệt phù sa và tình trạng dòng chảy bất thường.

Trong thảm hoạ này, ĐBSCL của Việt Nam có lẽ sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất. Không cần phải là một nhà khoa học hay một nhà quản trị chiến lược, chúng ta cũng có thể hình dung tầm quan trọng của vùng ĐBSCL. Vùng đất này không chỉ là ‘vựa lúa’ của cả nước, mà còn là vùng đất cung cấp nguồn hải sản, cây trái và các tài nguyên phong phú khác. Vì vậy, an ninh lương thực, thực phẩm của Việt Nam sẽ gặp thử thách cực lớn trong tương lai.

Nhưng điều đáng lưu tâm hơn nữa là đời sống của chính 20 triệu dân nơi khu vực đồng bằng này sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Toàn bộ cuộc sống nơi đây sẽ bị xáo trộn. Ngoài những thiệt hại có thể cân đo đong đếm được trước mắt do tình trạng hạn và ngập mặn gây nên, thảm hoạ này còn có nguy cơ gây ra những hệ quả rất lớn trong tương lai: cả một hệ sinh thái với cảnh núi non sông ngòi có nguy cơ bị phá huỷ; thiên nhiên biến đối cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi (thường là tiêu cực) trong lối sống nói riêng hay trong nền văn hoá nói chung.

https://cvdvn.net/category/bien-doi-khi-hau-climate-change/mekong-river-song-cuu-long/

https://saigoneer.com/saigon-environment/18538-mekong-delta-slammed-by-worst-drought,-saltwater-intrusion-in-decades

https://www.vaticannews.va/vi/world/news/2020-03/dong-bang-song-cuu-long-bi-buc-tu-va-tieng-keu-cuu.html

I.2. Quá trình hình thành mặn:

Tích lũy muối dư thừa trong vùng rễ dẫn đến mất năng suất đất một phần hoặc toàn bộ là một hiện tượng trên toàn thế giới. Các vấn đề về độ mặn của đất phổ biến nhất ở vùng khô cằn và bán khô cằn, nhưng đất bị ảnh hưởng bởi muối cũng xảy ra diện rộng ở vùng khí hậu ẩm ướt, đặc biệt là ở các vùng ven biển nơi nước biển xâm nhập qua cửa sông và sông ngòi nhiễm mặn quy mô lớn. Độ mặn của đất cũng là một vấn đề nghiêm trọng ở những khu vực sử dụng nước ngầm có hàm lượng muối cao để tưới. Tuy nhiên, giải pháp thủy lợi bằng những công trình lớn thường là tốn kém, kỹ thuật phức tạp và đòi hỏi quản lý linh hoạt. Việc không áp dụng các nguyên tắc quản lý nước hiệu quả có thể dẫn đến lãng phí nước thông qua rò rỉ; tưới nước quá nhiều và thoát nước không đầy đủ dẫn đến các vấn đề ngập úng và nhiễm mặn, ô nhiễm môi trường làm giảm năng suất đất, cuối cùng dẫn đến mất đất canh tác.

http://www.fao.org/3/x5871e/x5871e02.htm#1.%20INTRODUCTION

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6473225/

Những thay đổi môi trường toàn cầu (nghĩa là sa mạc hóa và mất đa dạng sinh học) sẽ diễn ra. Điều quan trọng là phải hiểu các quá trình tiến hóa diễn ra như thế nào và quan trọng hơn, chính các hoạt động của con người là thủ phạm đóng góp vào khả năng giảm sút của trái đất trong việc duy trì lớp phủ thực vật thiết yếu. Thành công hay thất bại của chúng ta sẽ phụ thuộc vào cách chúng ta quản lý các nguồn lực quý giá và chuyển các ưu tiên tạo ra sự giàu có ngắn hạn sang sử dụng bền vững lâu dài. 

Tính sinh học là một trạng thái động, thường được mô tả dưới dạng phản ứng địa hóa (đất và nước) và phản ứng sinh học (thực vật) để tăng độ mặn trong môi trường của chúng ta. Nếu tăng trưởng dân số vẫn không suy giảm và tài nguyên thiên nhiên của chúng ta tiếp tục cạn kiệt hoặc suy thoái ở mức báo động, thì sinh học cuối cùng sẽ trở thành một hạn chế đáng kể khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của chúng ta trong tương lai, như thực phẩm, nước, nhiên liệu và nơi trú ẩn. 

Độ mặn là một trong những yếu tố môi trường tàn bạo nhất làm hạn chế năng suất của cây trồng vì hầu hết các loại cây trồng đều nhạy cảm với độ mặn do nồng độ muối cao trong đất và diện tích đất bị ảnh hưởng bởi nó đang tăng lên từng ngày. Những thiệt hại về năng suất này chủ yếu là do hạn hán và độ mặn của đất cao, điều kiện môi trường sẽ xấu đi ở nhiều khu vực vì biến đổi khí hậu toàn cầu. Một loạt các chiến lược thích ứng và giảm thiểu được yêu cầu để đối phó với các tác động như vậy. Quản lý tài nguyên hiệu quả và cải tiến cây trồng/vật nuôi để phát triển các giống tốt hơn có thể giúp khắc phục căng thẳng về độ mặn. Các chiến lược như vậy được rút ra từ lâu và tốn nhiều chi phí, cần phải phát triển các phương pháp sinh học đơn giản và chi phí thấp để quản lý stress mặn, có thể được sử dụng trên cơ sở ngắn hạn. 

Nông nghiệp sinh học có thể đóng một vai trò quan trọng trong khía cạnh này, nếu chúng ta khai thác các đặc tính độc đáo của chúng như khả năng chịu mặn, đa dạng di truyền, hóa giải các chất hòa tan tương thích, sản xuất hormone thúc đẩy tăng trưởng thực vật, kiểm soát khả năng sinh học và tương tác của chúng với cây trồng.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4336437/

I.3. Làm thế nào để cải thiện

Có nhiều giải pháp từ vật lý, hóa học, sinh học … Trong bài viết này chúng tôi chỉ giới thiệu những hoạt động mà người dân có thể áp dụng được nhất là giải pháp sinh học, cách quản lý trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay.

Nông nghiệp sinh học được định nghĩa là sản xuất cây trồng trên đất mặn, trong hầu hết các trường hợp, nước biển hoặc nước lợ/nước mặn là nguồn nước tưới duy nhất. Quan tâm nhất đến việc phát triển và nhân giống thực vật bền vững thay thế cho các vùng đất bị ảnh hưởng bởi muối được coi là không phù hợp với canh tác thông thường, bao gồm:

(1) quản lý đất/nước hiệu quả hơn và cải thiện khả năng chịu mặn của cây trồng,

(2) thuần hóa của cây chịu mặn (halophytes) cho mục đích thương mại và/hoặc canh tác thích nghi môi trường. Mục tiêu cuối cùng của những giải pháp này là giúp cung cấp an ninh lương thực thực phẩm và nước cho các thế hệ tương lai bằng cách bảo tồn và phục hồi các nguồn tài nguyên khan hiếm, thay thế chúng cho các nguồn nước mặn ngày càng là mối đe dọa hơn trong các hệ sinh thái nông nghiệp mới nổi. 

Trong thiên nhiên tùy theo điều kiện sinh lý, sinh thái mà cây trồng thích nghi trong môi trường đó mà các nhà thực vật học xếp nó vào những nhóm riêng như:

-       Hydrophytes là nhóm thực vật sống trong nước;

-       Mesophytes là nhóm thực vật trên cạn chỉ cần một lượng nước trung bình;

-       Xerophytes là nhóm thực vật sống thích nghi trong điều kiện khô hạn.

Nhóm cây chịu mặn (Halophytes) hiện đang được coi là một lựa chọn hấp dẫn cho các loại cây trồng trong tương lai, mang lại một số lợi thế bảo tồn và phục hồi riêng biệt. Trong đó, cây dừa thuộc nhóm này. Ngoài ra, có một vài nhà phân loại thực vật cũng khuyên, ngoài halophytes thì cũng nên xếp cây dừa thuộc nhóm heliophytes (nhóm ưa ánh sáng).

Tuy nhiên ít loài thực vật là halophytes. Có lẽ chỉ có 2% trong số tất cả các loài thực vật…

Số còn lại, phần lớn các loài thực vật là glycophytes, không chịu được muối và bị phá hủy khá dễ dàng bởi độ mặn cao.

http://www.biosalinity.org/global%20perspective.htm

Tóm lại, độ mặn của đất và nước là những mối đe dọa và rào cản lớn đối với các hệ thống sản xuất cây trồng tối ưu ở hầu hết các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các khu vực khô cằn và bán khô hạn. Sự nhiễm mặn của tài nguyên đất và nước là hậu quả chính của hai yếu tố bao gồm các hiện tượng xảy ra tự nhiên và các hoạt động nhân tạo. Yếu tố thứ nhất đã gây ra độ mặn sơ cấp, trong khi yếu tố thứ hai, nổi bật hơn, đã gây ra độ mặn do con người hay thứ cấp.

https://www.intechopen.com/online-first/water-productivity-improvement-under-salinity-conditions-case-study-of-the-saline-areas-of-lower-kar

I.4. Khái niệm độ mặn(2), là một thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả nồng độ muối hòa tan tăng cao trong đất và nước. Bao gồm chủ yếu các ion (hay điện tích là một nguyên tử hay nhóm nguyên tử bị mất hay thu nhận thêm được một hay nhiều điện tử. Một ion mang điện tích âm, khi nó thu được một hay nhiều điện tử (được gọi là ion âm) và một ion mang điện tích dương khi nó mất một hay nhiều điện tử (được gọi là ion dương). Quá trình tạo ra các ion được gọi là ion hóa dễ hòa tan nhất như natri và clorua, và ở mức độ thấp hơn canxi, magiê, sunfat và kali. Độ mặn trong môi trường của chúng ta ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước, cấu trúc đất và sự phát triển của cây. Mặc dù tích lũy tối thiểu số lượng theo dõi là cần thiết cho chức năng sinh học của cây trồng. Nhiễm mặn quá mức đang nhanh chóng trở thành một trong những hạn chế hàng đầu đối với nguồn nước ngọt, mở rộng đất trồng trọt và năng suất của các trang trại bị ảnh hưởng.

https://www.coconutboard.in/images/icj-2018-01.pdf

https://www.qld.gov.au/environment/land/management/soil/salinity/impacts

I.5. Sự khác biệt giữa đất mặn và đất soda

- Đất mặn (Saline soil): Đất có cấu trúc rời rạc và cát chiếm ưu thế với tốc độ bay hơi bề mặt cao và mức độ thẩm sâu tùy thuộc vào kết cấu của chúng (mịn hoặc thô). Chúng thường chứa một lượng đáng kể các muối tan trong nước (như natri, clorua, canxi, magiê và sunfat)  EC lớn hơn 4 dS/m, ESP nhỏ hơn 15% và pH thấp hơn 8,5. Đất mặn hình thành tự nhiên có thể được tìm thấy dọc theo bờ biển và trong khu vực khô cằn với lượng đất sét và chất hữu cơ tối thiểu. 

- Đất soda (sodic soil): Phần lớn có cấu trúc dày đặc, thiếu không khí, nước và khí thấm thấp. Những loại đất này được đặc trưng bởi hàm lượng muối hòa tan thấp (EC dưới 4 dS/m), cấu trúc đất kém (ESP lớn hơn 15%) và độ kiềm (pH lớn hơn 8,5). Độ dẻo thường liên quan đến nồng độ cao của natri cacbonat và bicarbonate không hòa tan liên kết với các hạt đất sét/hữu cơ, nén chặt và tạo thành lớp vỏ dày đặc (đất sét) gần bề mặt. Đất soda đã trở thành một trong những nơi khó sản xuất và khó cải tạo nhất.

- Đất mặn soda (Saline-sodic soils): Phổ biến ở vùng khô cằn và bán khô cằn, thường đại diện cho giai đoạn chuyển tiếp giữa đất mặn và đất soda với EC lớn hơn 4 dS/m, ESP lớn hơn 15% và pH nhỏ hơn 8,5. Nếu không có thao tác sửa đổi vật lý và thấm nước thích hợp thì năng suất cây trồng sẽ giảm đáng kể; Những loại đất này thường không thấm, đặc biệt là khi độ cứng có xu hướng chiếm ưu thế ở các lớp trên.

Đất

EC (dS / m)

Đặc biệt (%)

SAR

pH

Đất mặn

> 4

<15

<12

<8,5

Đất soda

<4

> 15

> 12

> 8,5

Đất mặn-soda

> 4

> 15

> 12

<8,5

Các vùng đất được coi là phù hợp cho canh tác mang tính thương mại phần lớn được xác định bởi thành phần nguyên tố (dinh dưỡng), tính thấm và cấu trúc (tilth). Những phẩm chất này bị ảnh hưởng trực tiếp bởi độ mặn của  đất và nước tưới (EC hoặc TDS), mất cân bằng natri so với các yếu tố khác (ESP: Các tỷ lệ natri trao đổi: exchangeable sodium percentage hoặc SAR: Tỷ lệ hấp phụ natri : sodium adsorption ratio), và tính độc hoặc chất dinh dưỡng hòa tan (pH). Trong đất mặn, độ kiềm cao của đất sodic làm hạn chế hơn nữa năng suất nông nghiệp vì natri chiếm tỷ lệ lớn hơn trong tổng nồng độ muối và điện tích âm làm cho các hạt đất sét/hữu cơ bị phồng lên. Sự sưng nở này làm xáo trộn độ dẫn thủy lực, làm giảm khả năng lọc, thẩm thấu và làm giảm khả năng hòa tan của các chất dinh dưỡng thiết yếu khác cần thiết cho cây trồng (như sắt, mangan, kẽm, coban, đồng).

Khi sử dụng các phép đo EC để mô tả độ mặn, nước thường được coi là không nhiễm mặn ở mức dưới 0,7 dS/m, nước lợ trong khoảng 0,7-2 dS/m và nước muối (ở các mức độ khác nhau) trên 2 dS/m; nước mưa hoặc nước cất có giá trị EC là 0,02-0,05 dS/m trong khi nước biển, trung bình từ 45-60 dS/m. Độ mặn của nước cũng có thể dễ dàng đo lường và phân loại theo tính toán TDS. 

Nước

EC (dS/m)

(Electrical Conductivity)

TDS (mg/l)

(Total Dissolved Solids)

Ứng dụng

Ngọt (fresh)

<0,7

<500

uống được

Lợ

0,7-2,0

500-1.500

chăn nuôi,trồng được hầu hết các loại cây

Trung bình

2-10

1.500-7.000

cây trồng chịu mặn

Mặn

10-45

7.000 - 35.000

hầu hết các halophytes

Nước biển

45-60

35.000-45.000

vài halophytes, tảo

Đất mặn (saline soils) và đất soda (sodic soils) hạn chế hấp thụ nước của rễ cây và chúng cũng phá hủy cấu trúc đất bằng cách phá vỡ và phân tán các hạt đất. Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự nảy mầm của hạt và sự phát triển của rễ. Những điều kiện này là các vấn đề đất khác nhau gây ra các triệu chứng và vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, việc quản lý đất mặn và đất soda cần có các phương pháp hơi khác nhau.

Cả đất mặn và đất soda đều có độ pH cao, với các vấn đề thường xảy ra ở độ pH là 7,8 hoặc điều kiện cực kỳ kiềm. Sự khác biệt chính là đất mặn cũng có hàm lượng muối cao, trong khi đất soda có hàm lượng natri cao. Đất cũng có thể có cả hàm lượng muối và natri cao cùng một lúc. Khi đề cập đến đất mặn, hàm lượng muối mô tả muối hòa tan trong đất, bao gồm clorua natri, canxi và magiê, cũng như muối cacbonat. Những thứ này đủ cao để ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và gây chết cây. Khi đề cập đến đất soda, mức độ natri trong đất chiếm ưu thế so với các muối hòa tan khác.

I.6. Triệu chứng đất mặn:

Vì điều kiện kiềm làm hạn chế các chất dinh dưỡng như sắt, phốt pho và kẽm (có trong đất), ta sẽ thấy các triệu chứng lá cây trong đất mặn có các sọc màu vàng ở trên do thiếu kẽm và sắt, hoặc màu xanh đậm hoặc tím của cuống do thiếu phốt pho. Cũng có thể nhận thấy một chất bột trên đất, vì muối được phân tán ra bề mặt đất.

I.7. Triệu chứng đất soda

Cây trồng trong đất có thể cho thấy các triệu chứng hạn hán như cây mọc trong đất mặn, nhưng điều kiện đất soda cũng làm giảm khả năng sống của cây con và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự nảy mầm. Đất soda cũng có thể phát triển lớp vỏ màu nâu đen gây ra bởi sự phân tán các chất hữu cơ. Một khi lớp vỏ này có thể nhìn thấy, vấn đề thường nghiêm trọng và thực vật sẽ có dấu hiệu căng thẳng.

Mặc dù các triệu chứng quan sát bằng mắt rất hữu ích trong chẩn đoán đất nhiễm mặn, nhưng xét nghiệm đất là cần thiết để chẩn đoán và điều trị chính xác vấn đề. 

http://www.biosalinity.org/soil,_water_HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"_plants.htm

https://homeguides.sfgate.com/difference-between-saline-sodic-soils-80503.html

https://www.water.wa.gov.au/water-topics/water-quality/managing-water-qualhttps://www.intechopen.com/books/abiotic-stress-in-plants-mechanisms-and-adaptations/soil-salinisation-and-salt-stress-in-crop-productionity/understanding-salinity

I.8. Nguyên nhân

I.8.1. Nguồn gốc của muối

Sự hiện diện của muối dư thừa trên bề mặt đất và trong vùng rễ đặc trưng cho tất cả các loại đất mặn. Nguồn chính của tất cả các muối trong đất là các khoáng chất chính trong lớp tiếp xúc của lớp vỏ trái đất. Trong quá trình phong hóa hóa học bao gồm quá trình thủy phân, hydrat hóa, oxy hóa, cacbon hóa và các quá trình khác, các thành phần muối được giải phóng dần và hòa tan. Các muối được giải phóng được vận chuyển ra khỏi nguồn gốc của chúng thông qua các dòng nước mặt hoặc nước ngầm. Các muối trong dòng nước ngầm dần dần tập trung khi nước có muối hòa tan chuyển từ vùng ẩm hơn sang vùng ít ẩm hơn và tương đối khô cằn. Các ion chiếm ưu thế gần vị trí phong hóa với sự hiện diện của carbon dioxide sẽ là carbonate và hydro-carbonate của canxi, magiê, kali và natri; tuy nhiên nồng độ của chúng là thấp. Khi nước có các chất hòa tan chuyển từ vùng ẩm hơn sang vùng khô, muối được cô đặc và nồng độ có thể trở nên đủ cao để dẫn đến kết tủa muối có độ hòa tan thấp. Ngoài sự kết tủa, các thành phần hóa học của nước có thể trải qua những thay đổi hơn nữa thông qua các quá trình trao đổi, hấp phụ, v.v., và kết quả của các quá trình này là theo thời gian, nồng độ đối với các ion clorua và natri trong nước và trong đất sẽ tăng dần. Cũng xin nhắc lại, muối dư vừa phải được giữ trong đất ở trạng thái keo tụ khiến cho những loại đất này thường có tính chất vật lý tốt. Cấu trúc này thường là tốt và tính thấm nước dễ dàng thậm chí còn tốt hơn so với đất không nhiễm mặn. Tuy nhiên, khi được lọc, rửa bằng nước thấp, một số loại đất mặn có xu hướng phân tán dẫn đến độ thấm nước và độ thoáng khí thấp, đặc biệt là đất sét nặng. 

http://www.fao.org/3/x5871e/x5871e03.htm#2.1%20Origin%20of%20salts

Quá trình kiềm hóa và nhiễm mặn đất là quá trình tích tụ các muối tự do như Na +, K +, Ca2 +, Mg2 +, và Cl sắt trong lòng đất và nước ngầm, dẫn đến suy thoái đất và cản trở sự phát triển của cây. Khi Na + là nguồn mặn chính, nó còn được gọi là sod hóa thường liên quan đến việc tăng độ pH của đất.

file:///C:/Users/Admin/Downloads/remotesensing-08-00163%20(3).pdfa

I.8.2. Chu trình tuần hoàn trong thiên nhiên - Nhiễm mặn sơ cấp

Độ mặn sơ cấp xảy ra thường xuyên nhất khi muối được đưa lên các lớp trên của đất bởi áp lực mao dẫn lên (do nước bốc hơi trên mặt đất) và chuyển động của nước ngầm, trong đó muối được dẫn xuống dòng chảy dưới hoặc bên cạnh có xu hướng độ ẩm tập trung và bị cô đọng do nước bốc hơi hoặc do muối biển từ gió/mưa dọc theo bờ biển bay vào. Phong hóa của đá/khoáng sản cũng đã góp phần làm tăng độ mặn qua hàng thiên niên kỷ. Tương tự như vậy theo thời gian, sự di chuyển của nước mặn do lực thủy lực, thay đổi độ dốc của nước và ảnh hưởng của thủy triều đã dẫn đến sự hình thành đầm lầy muối ven biển và nhiễm mặn của các tầng chứa nước. 

Trong điều kiện tự nhiên, lượng mưa theo mùa và độ che phủ thực vật dồi dào, cấu trúc / thành phần đất khỏe mạnh và chu kỳ dinh dưỡng không bị cản trở là đủ để ngăn chặn độ mặn dư thừa trong đất và trong nước. Với hệ thống thoát nước tự nhiên đầy đủ và tính thấm đất tốt, muối có xu hướng tích tụ trong lớp đất sâu và mực nước ngầm bên dưới tầng ngậm nước hoặc quay trở lại đại dương qua sông và theo dòng nước ngầm. 

I.8.3. Hoạt động của con người - Nhiễm mặn thứ cấp

Sự cân bằng bình thường giữa nước thấm lậu và tích lũy muối đã bị xáo trộn nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Phá vỡ trạng thái cân bằng động này (lưu thông nước và muối), dọn sạch thảm thực vật bản địa để phục vụ cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị hiện đã và đang áp đặt những hạn chế đáng kể đối với năng suất sinh khối của trái đất. 

Việc loại bỏ các thảm thực vật có rễ sâu (ví dụ như cỏ, cây bụi và cây lâu năm) và việc trồng các loại cây độc canh hàng năm có rễ cạn quy mô lớn là nguyên nhân thứ yếu độ mặn và suy thoái đất do thoát hơi nước và rửa trôi quá mức, khiến mực nước ngầm dâng cao và đưa muối dọc theo dòng nước đi lên. Khi nước bay hơi khỏi bề mặt đất, để lại muối (theo Doupe và các cộng sự, 2006).

Một số muối được tìm thấy trong phân bón hóa học và một số sửa đổi đất hữu cơ (ví dụ sunfat, nitrat và natri/canxi bicarbonat) thường tích lũy theo tỷ lệ độc hại trên đất nông nghiệp và môi trường sống khác thải ra. Tương tự như vậy, việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ ở các vùng đất rộng lớn đã làm cho các nguồn nước ngọt bị ô nhiễm quan trọng. Ngoài ra, còn có sự gia tăng và nén chặt đất.

I.8.4. Quản lý nước

Vì tất cả nước mặt và nước ngầm đều chứa muối ở các mức độ khác nhau, tưới tiêu thường được xem là thủ phạm chính để đưa muối vào đồng ruộng. 

Độ mặn trong vùng rễ tăng khi tốc độ thoát hơi nước (ảnh hưởng kết hợp của bốc hơi ẩm của đất và tiêu thụ nước/thoát hơi nước của thực vật) vượt quá mức cân bằng nước ngọt. Trong điều kiện tưới, kỹ thuật phổ biến nhất để lọc và đẩy muối ra khỏi vùng rễ đòi hỏi phải sử dụng một lượng nước ngọt với số lượng lớn hơn tổn thất do thoát hơi nước. Tuy nhiên, nếu không có hệ thống thoát nước đầy đủ, muối ở trong đất sẽ hòa tan và nổi lên trên bề mặt theo mực nước ngầm. Do đó, ngập úng trên bề mặt và dưới bề mặt đã trở thành một hạn chế năng suất lớn khác liên quan đến việc tưới tiêu ở nhiều vùng đất khô, và một số nguyên nhân khác…

Nên nhớ rằng, trừ nước tinh khiết, nước cất là loại nước trơ, không có muối; còn tất cả nguồn nước như nước mưa, kể cả cái gọi là “nước ngọt” đều có muối hòa tan. Dần theo thời gian “nước ngọt” sẽ để lại một lượng muối đáng kể trong đất.

http://www.biosalinity.org/soil,_water_HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"_plants.htm#Causes%20HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"%20Manifestations%20of%20Salinity

I.9- Ngưỡng độ mặn

Ngưỡng độ mặn thường được định nghĩa là lượng muối tối đa mà cây có thể chịu đựng được trong vùng rễ của nó mà không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng. Các ngưỡng quan trọng khác cho thấy mức độ chịu mặn thực vật cao nhất liên quan đến sự suy giảm năng suất hoặc sinh khối (thường là từ 10-50%); ngưỡng năng suất bằng 0 (bằng không) xác định các mức mà tại đó cây trồng không còn có thể tồn tại. Sự liên tục tồn tại giữa các thái cực trong khả năng chịu mặn như được chứng minh bởi phổ thực vật đa dạng ~ (tương đương) từ những loài phát triển mạnh trong nước biển có độ mặn cao đến những loài không thể chịu đựng được ngay cả nồng độ tối thiểu mà không bị suy giảm đáng kể. 

Nhìn chung, các cây được thuần hóa được phân loại là nhạy cảm với muối có ngưỡng độ mặn 1-3 dS/m và năng suất bằng 0 (bằng không) ở mức 8-16 dS/m (hoặc ít hơn) trong khi khả năng chịu mặn “vừa phải” có ngưỡng 5-10 dS/m và 0 ở 16-24 dS/m. Không bao gồm trong danh sách này là một số cây trồng thương mại cho quả chất lượng cao hơn và năng suất thấp hơn trên đất mặn hoặc khi được tưới bằng nước mặn trong khoảng 3-5 dS/m (ví dụ rau diếp, dưa, nho, dưa chuột, cà chua) cũng như những loại khác được coi là "chịu mặn" vừa phải (ví dụ như măng tây, bông, hạt cải dầu, ô liu, lựu, lúa miến và lúa mạch đen) với mục đích thực tế có thể được xem là dòng cây chịu mặn. 

Phương pháp phổ biến nhất để đo độ mặn là xác định mức độ dẫn điện (EC) trong đất và nước của chúng ta. Sự gia tăng trong các phép đo EC có tương quan trực tiếp với sự gia tăng nồng độ muối hòa tan hoặc các nguyên tố ion, chủ yếu là natri và clorua. Độ dẫn điện thường được biểu thị bằng các đơn vị như decisiemens trên mét (dS/m) để định lượng khả năng của mẫu dẫn điện xung với điện trở 1 ohm. 

Đất được phân loại là mặn khi giá trị EC (Electrical Conductivity): độ dẫn điện vượt quá 4 dS/m trong khi nước được coi là nước lợ trong khoảng 0,7-2 dS/m và nước muối ở mức trên 2 dS/m. Mưa hoặc nước cất có độ dẫn 0,02-0,05 dS/m trong khi nước biển, ở cực khác, trung bình từ 45-60 dS/m. Độ mặn trong nước cũng được đo bằng trọng lượng của các hạt vô cơ hoặc tổng chất rắn hòa tan (TDS:Total Dissolved Solids), được biểu thị bằng phần triệu (ppm) hoặc miligam mỗi lít (mg/l): dưới 1.000 ppm được coi là “ngọt” hoặc uống được, lớn hơn 4.000 ppm là mặn và từ 35.000-45.000 ppm là tiêu chuẩn cho nước biển. Khi so sánh các phép đo EC và TDS, lưu ý rằng 1 dS/m gần bằng 650-700 ppm và gần hơn 800 ppm ở mức độ mặn tương đối cao hơn.

Ngưỡng độ mặn không phải là chỉ số cố định chịu mặn mà chúng có thể thay đổi rộng rãi với điều kiện môi trường và kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến phản ứng sinh lý của cây trồng để tăng độ mặn. Một số yếu tố quan trọng cần xem xét khi đo lường tác động của muối đối với sự tăng trưởng và năng suất của cây.

I.10. Đo lường và phân loại độ mặn

Vì thực vật hấp thụ hầu hết các muối thông qua rễ của chúng, nồng độ của chúng trong vùng rễ cung cấp các chỉ số phù hợp nhất để đo lường và phân loại độ mặn; tưới nước ngọt, thậm chí là nước mưa, tán lá của cây cũng có thể hấp thụ muối đáng kể. Các mẫu được lấy từ các lớp đất khác nhau cũng rất hữu ích trong việc dự báo tác động của nồng độ muối đối với sự nảy mầm của cây trên bề mặt và tăng trưởng tối ưu đến độ sâu rễ tối đa.

I.11. Đo độ mặn

Cho đến nay, phương pháp đo độ mặn của đất phổ biến nhất là xác định mức độ dẫn điện của nó (EC) sử dụng một chiết xuất dán bão hòa (đất trộn với nước cất). Được biểu thị dưới dạng decisiemens trên mét (dS/m), tăng giá trị EC có liên quan trực tiếp đến việc tăng nồng độ của các ion muối hòa tan, chủ yếu là natri và clorua. Các tính toán dS/m này định lượng khả năng độ ẩm của đất để dẫn xung điện với điện trở 1 ohm, và do đó tương đương với millimhos trên mỗi cm (mmhos / cm). 

Các tỷ lệ natri trao đổi (exchangeable sodium percentage:  ESP) được định nghĩa là tỷ lệ natri trao đổi hấp phụ ( gắn với đất sét) so với tổng công suất trao đổi cation của đất. Khi giá trị ESP tăng lên, chất lượng đất giảm dần và sự phát triển của cây bị hạn chế. Liên quan chặt chẽ đến ESP. Tỷ lệ hấp phụ natri (sodium adsorption ratio:  SAR) đo lường mức độ vượt trội của natri so với canxi và magiê, các yếu tố cụ thể làm giảm tác dụng phụ của natri (SAR và ESP thường được sử dụng thay thế cho nhau).  Các xét nghiệm pH, xác định độ axit hoặc độ kiềm, có thể được sử dụng như một chỉ số về khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất cho cây: độ axit hoặc pH thấp làm tăng tác dụng độc hại của kim loại vi lượng (như nhôm và mangan) trong khi độ kiềm hoặc pH cao có xu hướng làm giảm sự sẵn có của các chất dinh dưỡng vi lượng thiết yếu (như sắt, magiê, kẽm, đồng và coban).

http://www.biosalinity.org/soil,_water_HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"_plants.htm#Causes%20HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"%20Manifestations%20of%20Salinity

I.12. Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng của cây

Độ mặn của đất áp đặt độc tính ion, gây căng thẳng thẩm thấu, gây thiếu chất dinh dưỡng (N, Ca, K, P, Fe, Zn) vì bị Na ngăn chặn rễ cây hấp thụ và stress oxy hóa đối với cây trồng, do đó hạn chế sự hấp thụ nước từ đất, hiện tượng thiếu nước giả tạo sẽ diễn ra. Độ mặn của đất làm giảm đáng kể sự hấp thu phốt pho thực vật (P) vì các ion photphat kết tủa với các ion Ca (Bano và Fatima, 2009). Một số nguyên tố, chẳng hạn như natri, clo và boron, có tác dụng độc hại cụ thể đối với thực vật. Sự tích tụ quá nhiều natri trong thành tế bào có thể nhanh chóng dẫn đến căng thẳng thẩm thấu và chết tế bào (Munns, 2002). Thực vật nhạy cảm với các bất lợi này có thể bị ảnh hưởng ở nồng độ muối tương đối thấp nếu đất chứa đủ các yếu tố độc hại. Bởi vì như đã nói muối cũng là chất dinh dưỡng thực vật, nhưng nồng độ muối cao trong đất có thể làm đảo lộn sự cân bằng dinh dưỡng trong cây hoặc cản trở sự hấp thu của một số chất dinh dưỡng khác (Blaylock et al., 1994). Độ mặn cũng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp chủ yếu thông qua việc giảm diện tích lá, hàm lượng chất diệp lục và độ dẫn của khí khổng, và ở mức độ thấp hơn như việc giảm hiệu quả của hệ thống quang học (Netondo et al., 2004). Độ mặn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển sinh sản làm chết noãn và lão hóa phôi được thụ tinh. Môi trường tăng trưởng mặn gây ra nhiều tác động bất lợi đối với sự phát triển của cây, do khả năng thẩm thấu thấp của dung dịch đất (stress thẩm thấu), tác dụng ion đặc hiệu (stress muối), mất cân bằng dinh dưỡng hoặc kết hợp các yếu tố này (Ashraf, 2004). Tất cả các yếu tố trên gây ra tác động bất lợi đối với sự tăng trưởng và phát triển của cây ở mức độ sinh lý và sinh hóa (Munns và James, 2003), và ở cấp độ phân tử (Tester và Davenport, 2003).

hthttps://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0147651304000922tps://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4336437/

Các yếu tố môi trường xung quanh (ví dụ nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và gió) ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chịu mặn của cây. Môi trường nóng và khô có xu hướng làm tăng mức độ nghiêm trọng của stress đối với cây trồng: nhiệt độ cao có xu hướng tăng cường hoạt động của ion natri trong đất trong khi sự khô cằn đẩy nhanh sự bốc hơi ở bề mặt và tăng tiêu thụ/thoát hơi nước của cây. Trong những điều kiện này, nước của cây giảm đi một cách nhanh chóng, tạo ra sự tích tụ muối hơn nữa trong các tế bào và mô của nó. 

http://www.biosalinity.org/soil,_water_HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"&HYPERLINK "http://www.biosalinity.org/soil,_water_&_plants.htm"_plants.htm

I.13. Ảnh hưởng của độ mặn đến tính chất vật lý của đất

Độ mặn của đất có thể ảnh hưởng đến tính chất vật lý của đất bằng cách làm cho các hạt mịn liên kết với nhau thành tập hợp. Quá trình này được gọi là keo tụ và có lợi về mặt sục khí, sự xâm nhập của rễ và sự phát triển của rễ (như đã đề cập ở phần trên). Mặc dù tăng độ mặn của dung dịch đất là có tác động tích cực đến sự kết tụ và ổn định của đất, nhưng ở mức độ cao, độ mặn có thể có tác động tiêu cực và có khả năng gây chết cây trồng. Do đó, độ mặn không thể tăng lên để duy trì cấu trúc đất mà không xem xét các tác động tiềm ẩn đối với sức khỏe của cây trồng. 

Natri có tác dụng ngược lại với độ mặn trên đất. Các quá trình vật lý cơ bản liên quan đến nồng độ natri cao là hiện tượng phân tán trương nở đất và hạt đất sét. Các lực liên kết các hạt đất sét bị phá vỡ khi có quá nhiều ion natri nằm giữa chúng. Khi sự phân cách này xảy ra, các hạt đất sét mở rộng, gây sưng và phân tán cấu trúc đất.

Sự phân tán đất khiến cho các hạt đất sét làm bít lỗ chân lông (tế khổng) đất, dẫn đến giảm độ thấm của đất, cấu trúc đất thiếu thông thoáng, hạn chế hoạt động của vi sinh vật. Khi đất được làm ướt nhiều lần và khô thì hiện tượng phân tán đất xảy ra, sau đó hóa cứng, đất gần giống như xi măng (xi măng hóa) với tình trạng rất ít hoặc không có cấu trúc. 

Sự phân tán đất không chỉ làm giảm lượng nước xâm nhập vào đất mà còn ảnh hưởng đến độ dẫn thủy lực của đất. Độ dẫn thủy lực là tốc độ nước chảy qua đất. Ví dụ, các loại đất có cấu trúc được xác định rõ ràng sẽ chứa một số lượng lớn các lổ chân lông trong đất (khoảng trống), vết nứt và khe nứt cho phép dòng nước chảy qua đất tương đối nhanh. Khi phân tán đất do natri gây ra làm mất cấu trúc đất, độ dẫn thủy lực cũng bị giảm. Nếu nước không thể đi qua đất, thì lớp trên có thể bị sưng và nước đọng. Điều này dẫn đến đất kỵ khí có thể làm giảm hoặc ngăn chặn sự phát triển của cây và giảm tốc độ phân hủy chất hữu cơ. Hậu quả của việc giảm phân hủy sẽ làm cho đất trở nên vô sinh (xơ cứng).

Ba vấn đề chính gây ra bởi sự phân tán do natri gây ra là giảm độ thông thoáng, giảm độ dẫn thủy lực gây xơ cứng lớp vỏ bề mặt.

Các muối đóng góp vào độ mặn, chẳng hạn như canxi và magiê, nhưng không có tác dụng lớn vì chúng nhỏ hơn và có xu hướng tụ lại gần các hạt đất sét (Hình dưới). Canxi và magiê nói chung sẽ giữ cho đất kết bông vì chúng cạnh tranh trong cùng một không gian như natri để liên kết với các hạt đất sét. Lượng canxi và magiê tăng có thể làm giảm lượng phân tán do natri gây ra. 

 

Hình diễn tả hoạt động của Natri (làm các hạt sét phân tán- Bên trái) và Canxi gắn với các hạt đất sét.

(After Hanson et al., 1999). Nguồn hình: http://waterquality.montana.edu/energy/cbm/background/soil-prop.html 

 

II. PHẦN THỰC HÀNH

* Cải thiện độ mặn

Những giải pháp được giới thiệu sau đây, mặc dù mang chức năng đơn lẻ nhưng mỗi giải pháp đều bổ sung cho nhau và là điều kiện cùng thúc đẩy tác động cho nhau.

Xâm nhập mặn có thể được hạn chế bằng cách lọc muối từ vùng rễ, thay đổi phương thức quản lý trang trại và sử dụng cây chịu mặn. Nông nghiệp tưới tiêu có thể được duy trì bằng các biện pháp tưới tiêu tốt hơn như áp dụng phương pháp giữ ẩm thích hợp ở vùng rễ, tưới nhỏ giọt hoặc tưới phun sương để tối ưu hóa việc sử dụng nước. Sự lan truyền của độ mặn trong đất khô có thể được ngăn chặn bằng cách giảm lượng nước đi qua rễ. Điều này có thể được thực hiện bằng cách trồng các cây lâu năm bám rễ sâu, sử dụng nước tưới bổ sung trong mùa khô để hỗ trợ cây trồng hàng năm. Điều này có thể khôi phục sự cân bằng giữa lượng mưa và lượng nước sử dụng, do đó ngăn chặn mực nước dâng cao và sự di chuyển của muối lên bề mặt đất (Manchanda và Garg, 2008). Sau đây là những giải pháp cụ thể:

1. Sử dụng phân hữu cơ

Đây là giải pháp căn cơ và mang tính toàn diện kết hợp với chế độ tưới đúng cách.

1.1- Phân hữu cơ giúp cải thiện tính hóa sinh của đất

Trong các khu vực căng thẳng do bị nhiễm mặn, phân hữu cơ có hàm lượng kali cao sẽ cải thiện sự hấp thu K và do đó loại trừ Na ra khỏi kết cấu đất. Na dư thừa gây ra thiếu nước sinh lý (có nước nhưng rễ không hấp thụ được). Vì vậy, nếu chúng ta giảm sự hấp thu Na của thực vật thông qua việc loại trừ Na sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của cây.

Việc bổ sung phân bón P cùng với phân hữu cơ cho đất cũng giúp dẫn đến cải thiện đáng kể tính chất vật lý và hóa học của đất. Các phương pháp xử lý kết hợp phân bón P với bùn thải hoặc phân chuồng trại làm giảm độ mặn của đất, tăng độ dẫn thủy lực, giữ ẩm nước vùng rễ và bổ sung các chất dinh dưỡng đa lượng. 

Sự hấp thu phốt pho (P) của cây trồng bị giảm trong điều kiện đất khô hạn và sự sẵn có của chất dinh dưỡng đa lượng này cũng có thể giảm độ mặn trong đất. Ngoài ra, trong quá trình khoáng hóa, chất hữu cơ giải phóng các chất humic, có thể chuyển hóa phốt phát đất thành các dạng có sẵn. Hơn nữa, trong đất mặn, K có thể tăng lên thông qua việc tăng CEC(3), liên quan đến hàm lượng chất hữu cơ. Đặc biệt, việc áp dụng phân gia cầm và phân hữu cơ vào đất có thể làm tăng cả CEC và chất hòa tan và trao đổi K + ,  K + là đối thủ cạnh tranh của Na + , do đó, trong điều kiện đất bị nhiễm mặn, K +  sẽ hạn chế sự xâm nhập của Na + vào phức hợp trao đổi. Hơn nữa, K + cũng rất quan trọng để duy trì khả năng tăng trưởng của cây trồng dưới áp lực hạn hán và nhiễm mặn. Xâm nhập mặn có thể làm xáo trộn rất nhiều quá trình hoạt động vi sinh trong đất. Sardinha và cộng sự đã chứng minh rằng ở các vị trí khác nhau bị ảnh hưởng bởi mặn, sinh khối vi sinh vật C, sinh khối N và nấm ergosterol có giá trị cao nhất ở vị trí có độ mặn thấp (hàm lượng muối hòa tan 2,1 mg· g −1 đất) và thấp nhất tại vị trí có độ mặn cao (muối hòa tan 9,7 mg · g 1 đất).

Chất hữu cơ sẽ cải thiện hoạt động của vi sinh vật, ở độ mặn EC 26, cho thấy sự gia tăng hoạt động urease của đất mặn và kiềm sau khi được bổ sung sửa đổi.

1.2. Phân hữu cơ giúp cải thiện tính chất vật lý của đất

Chất hữu cơ thúc đẩy sự ổn định cốt liệu đất thông qua các đặc tính liên kết hoặc bám dính, cả hai sản phẩm thải của vi khuẩn (polysacarit) và nấm/hoặc sợi nấm. Sự cải thiện độ ổn định cấu trúc cũng có thể đạt được bằng cách giảm độ chặt của đất. Trên thực tế, Ca 2+ có trong phân hữu cơ có thể làm giảm tỷ lệ Na + trong phức chất trao đổi và đẩy mạnh quá trình lọc Na + trao đổi. Do đó, quá trình keo tụ của khoáng sét là một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát xói mòn trong đất mặn. Sardinha và cộng sự đã báo cáo rằng sự kết hợp của các sửa đổi hữu cơ dẫn đến hiện tượng keo tụ đáng kể và hình thành một số lượng lớn các cốt liệu đất. Như một hệ quả của sự ổn định tổng hợp, độ xốp của đất, thấm nước và khả năng giữ nước của đất được cải thiện, do đó giảm thiểu tác động của hạn hán. Tỷ lệ hấp phụ natri của đất giảm đáng kể khi đất được xử lý bổ sung bằng axit sulfuric, thạch cao, phân chuồng trại và các tổ hợp khác nhau của chúng. Hơn nữa, một nghiên cứu khác cho thấy các tính chất vật lý của đất, như độ ổn định cấu trúc, tốc độ thấm và khả năng giữ nước, đã được cải thiện đáng kể nhờ ứng dụng chất thải rắn đô thị trong đất bị nhiễm mặn. Một mối tương quan trực tiếp giữa bổ sung chất hữu cơ và giảm mật độ khối đất cũng được ghi nhận. Sự giảm này có thể cho phép tăng cường độ xốp của đất và do đó, cải thiện khả năng lọc nước mặn. 

1.3. Phân hữu cơ làm giàu nhóm vi sinh vật sống trong rễ hoặc quanh vùng rễ trong vai trò giúp cây trồng chống chịu lại hạn mặn:

Với các đặc tính độc đáo của chúng về khả năng chịu đựng sự khắc nghiệt, tính phổ biến, đa dạng di truyền, sự tương tác của chúng với cây trồng và phát triển các phương pháp để triển khai thành công trong sản xuất nông nghiệp trong vùng đất mặn. Bên cạnh việc cải thiện đến các tính chất hóa lý của đất, các nhóm vi sinh endosphere (vi khuẩn sống bên trong rễ) và rhizosphere  (vi khuẩn sống trong đất xung quanh rễ) và những nhóm vi sinh vật khác cũng có thể trợ sức cho thực vật cao hơn trong hoạt động chống lại các stress phi sinh học như hạn hán, tổn thương lạnh, nhiễm độc kim loại và nhiệt độ cao, thông qua các cơ chế khác nhau như trong tế bào thực vật. 

Về mặt môi trường, việc sử dụng bùn thải và/hoặc phân chuồng trại làm tăng tổng hàm lượng kim loại nặng (Cd, Ni và Pb) trong đất. Mặc dù vậy, mức độ tổng Cd và Ni trong đất thường nằm dưới giới hạn tới hạn đối với rủi ro sinh thái và sức khỏe. Tuy nhiên, mức tổng Pb trong đất vượt quá giới hạn nguy hiểm, đòi hỏi phải có chương trình bổ sung để khắc phục. 

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7026061/

https://link.springer.com/article/10.1007/s11274-010-0572-7

http://www.vaas.org.vn/he-vi-sinh-vat-re-la-chia-khoa-giup-cay-ton-tai-qua-han-han-a17660.html

Xem thêm: Hiệu quả của việc sử dụng phân hữu cơ trong đất bị ảnh hưởng do muối

(http://hiephoiduabentre.com.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=11745&Itemid=280)

2. Bón vôi và thạch cao: Liều lượng sử dụng có thể từ 5-10 tấn/ha/năm, tùy khả năng nguồn cung cấp, bón phân hữu cơ kết hợp với vôi và thạch cao thì làm tăng thêm tác dụng của hai thứ. Tuy nhiên, rất tốn kém chi phí và công sức, mặc dù có hiệu quả nhưng có thể bỏ qua.

3. Tủ gốc: Phủ kín với chất phân hủy thực vật từ lâu đã được sử dụng để giữ độ ẩm cho đất và tạo ra một môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật có thể thực hiện các quá trình sinh học thiết yếu góp phần vào khả năng sinh sản. Trồng cây phân xanh là một kỹ thuật ít tốn kém có thể dễ dàng tích hợp vào các hệ thống xen canh để cung cấp liên tục mùn và phân bón. Khi được áp dụng đúng cách, các sửa đổi hữu cơ theo thời gian, sẽ cải thiện cấu trúc đất, tính thấm và độ phì tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển của cây và quản lý muối hiệu quả hơn như giảm bốc hơi nước, hạn chế mao dẫn mặn.

Trong các vật liệu phủ đất vườn cây, qua nhiều thí nghiệm đã cho thấy vật liệu từ vỏ, mụn dừa là có hiệu quả nhất vì dễ sử dụng hơn với những đặc tính riêng có, bởi vì:

·         Khả năng phân hủy sinh học, nhưng phân hủy sinh học chậm, chậm hơn so với các vật liệu  thông thường như lá dừa, lá dừa nước và các chất hữu cơ khác;

·         Là một sản phẩm không có hạt cỏ tự nhiên;

·         Giúp cải thiện cấu trúc đất, qua vic bổ sung chất hữu cơ;

·         Sục khí đất rất tốt, giúp rễ cây phát triển mạnh..

·         Cải thiện khả năng giữ nước, có thể giữ trọng lượng gấp bảy đến mười lần trọng lượng của nó; hoạt động như một miếng bọt biển để giữ nước trong vùng rễ để cây có thể sử dụng khi cần nhưng cũng sẽ loại bỏ lượng nước dư thừa để cây không bị úng;

·         Giúp đất giữ lại các chất dinh dưỡng có sẵn cho cây trồng. Hạn chế xói mòn và hạn chế sự ra trôi chất dinh dưỡng trong đất;

·         Có thể chôn vỏ dừa với bề mặt lõm hướng lên trên (lật ngữa vỏ) với liều lượng 25 kg/cây trong rãnh tròn, đào rộng 30 cm và sâu 60 cm ở bán kính 1,5 - 2,0 mét. Vỏ dừa cũng có thể được chôn trong các rãnh ở khoảng cách 3m từ thân cây với kích thước sâu 45cm và rộng 150cm ở giữa hai hàng dừa. Tác dụng có lợi của việc chôn vỏ sẽ kéo dài trong khoảng 5 - 7 năm.

Tuy nhiên, dừa là loài Halophytes(*) chịu mặn, nên lớp vỏ của trái có tích tr nhiều muối, trước khi sử dụng, nên thả xuống ao ngâm một vài ngày.

4. Trồng các loại họ đậu làm phân xanh và vật liệu phủ

·         (a) Phân xanh, gồm các loại: lục lạc sợi (cây lục lạc gai dầu), cốt khí tía (kolinji), Gliricidia maculata  Indigofera hirsuta, đậu ma;

·         (b) Cây che phủ: Calapagonium muconoides, Mimosa invisa, Stylosanthes gracilis;

·         (c) Cây bụi phân xanh kiêm bóng cây xanh: Tephrosia candida (Cốt khí);

Gieo phân xanh và che phủ hạt giống cây trồng trong tháng 6-7 với sự xuất hiện của những cơn mưa đầu mùa. Các loại phân xanh nên được cày xới và đưa vào đất trong tháng 9-10. Điều này sẽ làm tăng khả năng giữ nước của đất. Calapagonium có thể được trồng làm phân xanh hoặc che phủ cây trồng. Tephrosia đặc biệt thích hợp để trồng xung quanh hố cây giống cho bóng mát mùa hè và là nguồn phân xanh trong mùa mưa.

http://www.agritech.tnau.ac.in/expert_system/coconut/coconut/coconut_mainfield.html

5. Tưới rửa mặn khi có nguồn nước ngọt

Qua thời gian hạn mặn, có thể tưới bổ sung nguồn nước từ sông rạch, dù nồng độ mặn ở ngưỡng 3-4‰ (phần ngàn) đối với cây dừa. Khi có trồng xen các loại cây khác (cây có múi, chuối, đu đủ, cacao..) chỉ nên tưới rửa mặn khi nguồn nước sông có độ mặn dưới 2, nghĩa là phải thấp hơn ngưỡng độ mặn trong đất. Theo kinh nghiệm nhiều năm, trong đất mặn ở ngưỡng 4, sau một tháng đầu vào mùa mưa thì độ mặn trong đất giảm xuống mức dưới 1.

Trong thời gian thoát hơi nước cao giữa hai lần tưới kể cả là nước mưa và trong thời gian ngưng tưới, muối có xu hướng bị rỉ trở lại bề mặt đất. Độ mặn của đất đặc biệt cao khi mực nước ngầm nông và độ mặn của nước ngầm cao.

Thủy lợi là phương tiện hiệu quả nhất để ổn định sản xuất nông nghiệp ở những khu vực có lượng mưa không đủ để đáp ứng yêu cầu của cây trồng hoặc phân phối thất thường. Sự cân bằng này bị xáo trộn nghiêm trọng khi một lượng nước bổ sung được lan truyền một cách giả tạo (tưới không đủ nhu cầu, hoăc chất lượng kém) trên đất. Một khi mực nước ngầm ở gần bề mặt đất, do sự bốc hơi từ bề mặt, sự di chuyển đáng kể của nước ngầm diễn ra dẫn đến sự tích tụ muối trong vùng rễ. Để đảm bảo vùng rễ không có muối, phải ngăn chặn sự bay hơi từ nước ngầm. Nói chung, độ sâu tới hạn của mực nước nằm trong khoảng từ 1,5 đến 3,0 mét tùy thuộc vào đặc điểm đất, vùng rễ của cây trồng. Cung cấp các biện pháp thoát nước đầy đủ là cách duy nhất để kiểm soát mực nước ngầm. 

Ở nhiều khu vực, vấn đề thoát nước cũng phát sinh do sự tích tụ và ứ đọng của lượng mưa hoặc nước tưới dư thừa trên bề mặt đất. Các vấn đề thoát nước bề mặt thường phát sinh do độ dốc quá bằng phẳng hoặc làm chậm sự xâm nhập của nước do sự mất ổn định cấu trúc của đất hoặc do đất không bằng phẳng. Tình trạng ứ đọng nước tạm thời trong đất cũng dẫn đến các vấn đề về sục khí, dịch bệnh, kiểm soát cỏ dại và cung cấp chất dinh dưỡng. 

Sau khi tưới, độ ẩm của đất là tối đa và nồng độ muối hoặc áp suất thẩm thấu của dung dịch đất là tối thiểu s thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng. Khi đất khô dần do bay hơi, nồng độ muối trong dung dịch đất tăng lên và do đó áp suất thẩm thấu của nó tăng lên khiến cho rễ cây khó hấp thụ. Do đó, tưới không thường xuyên sẽ làm trầm trọng thêm độ mặn ảnh hưởng đến stăng trưởng của cây. Tưới thường xuyên hơn, giúp cho đất giữ độ ẩm cao hơn ngăn chặn nồng độ muối trong dung dịch đất s có xu hướng giảm thiểu tác động bất lợi của muối trong đất. Vì những lý do này, cây trồng trong đất mặn cần phải được tưới thường xuyên hơn so với cây trồng trong điều kiện không nhiễm mặn. Cần lưu ý, khi tưới nước cho dừa hay bất kỳ cây trồng nào khác ở đất không nhiễm mặn (mục đích là đưa dưỡng chất nuôi cây) thì chỉ tưới lượng vừa đủ, vượt quá mức nhu cầy sẽ gây sói mòn, rữa trôi dưỡng chất.

http://www.fao.org/3/x5871e/x5871e04.htm#3.2.1%20Salt%20leaching

(Xem thêm: Tưới nước cho dừa và các cây trồng khác)

http://hiephoiduabentre.com.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=9852&Itemid=2

 

Trong  tháng 1, tháng 2 /2020 vừa qua, phần lớn vườn cây, trong đó có vườn dừa  tại Bến Tre b ngập trong những con nước triều cường có độ mặn 4-5 là những yếu tố bất lợi trong tích lũy độ mặn. Thời gian tới, căn cứ vào dự báo, nông dân có thể be bờ giữ nước ngọt trước khi nồng độ mặn vượt ngưỡng diễn ra. Nếu không, thì tháo nước khô để không cho mao dẫn mặn từ dưới lên trên. Phần lớn đất vườn Bến Tre là đất sét, hoặc thịt pha sét, nên lực mao dẫn có thể lên đến 40-50 Cm. Lớp nước được tích tr trong đất, cùng với cơ chế giảm bốc thoát hơi nước như các bạn đã làm sẽ giúp cho sinh lý, sinh hóa cây phát triển trong điều kiện bình thường và sẽ không bị giảm năng suất. Chính vì vậy mà trong các bài viết vừa qua trong phần chọn giống dừa, chúng tôi đều lưu ý là bà con nông dân không nên chọn cây dừa mẹ trồng trên đống rác, chuồng gia súc, gần nhà tắm…(cây dừa rất sai trái nhưng nhờ nước và và phân hữu cơ, chứ không phải do bản chất cây mẹ là giống tốt).

Đón đọc thêm:

(*) Halophyte là gì?


CHÚ THÍCH:

(1)  Vũ Thành Tự Anh (sinh năm 1973, quê quán ở Hà Nội[1]) là tiến sĩ kinh tế học người Việt Nam. Ông hiện là Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà nghiên cứu cao cấp tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy. Ông còn là thành viên Nhóm chuyên gia kinh tế của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam, thành viên Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiệm kì 2016-2021. Ông chuyên nghiên cứu về kinh tế phát triển, chính sách công nghiệp, và kinh tế học thể chế.[2][3][4]

(2)  Cho đến nay, phương pháp đo độ mặn của đất phổ biến nhất là xác định mức độ dẫn điện của nó (EC) sử dụng một chiết xuất dán bão hòa (đất trộn với nước cất). Được biểu thị dưới dạng decisiemens trên mét (dS/m), tăng giá trị EC có liên quan trực tiếp đến việc tăng nồng độ của các ion muối hòa tan, chủ yếu là natri và clorua. Các tính toán dS/m này định lượng khả năng độ ẩm của đất để dẫn xung điện với điện trở 1 ohm, và do đó tương đương với millimhos trên mỗi cm (mmhos/cm). 

(3)  CEC (Cation Exchange Capacity: Khả năng trao đổi cation).

 

Các tin khác:
Một sự khởi đầu mới trong chuỗi cung ứng dừa
Philippines nghiên cứu dùng dầu dừa hỗ trợ điều trị COVID-19
Chuyên gia: Trồng dừa có thể làm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu
Có thêm nhiều sản phẩm từ dừa
Tháo điểm nghẽn vườn dừa
Hiệu quả của việc sử dụng phân hữu cơ trong đất bị ảnh hưởng do muối
Ứng dụng khoa học và công nghệ, nâng cao chuỗi giá trị ngành dừa và các chính sách hỗ trợ xúc tiến đầu tư phát triển ngành dừa tỉnh Bến Tre
Người dân trong hoạt động phát triển thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Bến Tre
Hội thảo “Xây dựng, khai thác và phát triển nhãn hiệu sản phẩm đặc thù” tỉnh Bến Tre
Nghiên cứu: Các phương pháp nhân giống dừa để đạt năng suất cao
 
THĂM DÒ Ý KIẾN
Theo bạn, chất lượng nội dung Website này như thế nào ?
Rất phong phú
Khá phong phú
Chưa phong phú
Ý kiến khác
Dành cho Quảng cáo
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre
Thạch dừa Minh Châu
Cty TNHH MTV Chế biến Dừa Lương Quới
Công ty Cổ phần Đầu tư Dừa Bến Tre
Công ty TNHH Vĩnh Tiến
Công ty TNHH chế biến sản phẩm dừa Cửu Long
Thương hiệu mạnh
Cơ sở Dừa Xanh Bến Tre
Cơ sở KDSX Thạch dừa Minh Tâm
DNTN Hưng Long
Công ty Cổ phần Chế biến Dừa Á Châu
Kẹo dừa Thanhh Long
Công Ty TNHH MTV Xuất Nhập Khẩu Huy Thịnh Phát
DNTN Trương Phú Vinh
Công ty Lê An
Công ty Cổ phần Mỹ phẩm dừa Phú Long
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 18.455.614
Online: 32
Sản phẩm doanh nghiệp
 
Trang chủ | Dịch vụ | Liên hệ - Góp ý
Về đầu trang
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun